CÁC BÀI SUY NIỆM & CHÚ GIẢI LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN – NĂM A
Is 25,6-10a; Pl 4,12-14.19-20; Mt 22,1-14
------------------
Mt 22, 1-14
“Các ngươi gặp bất cứ ai, thì hãy mời vào dự tiệc cưới”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu lại phán cùng các đầu mục tư tế và kỳ lão trong dân những dụ ngôn này rằng: “Nước trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai các đầy tớ khác mà rằng: “Hãy nói cùng những người đã được mời rằng: Này ta đã dọn tiệc sẵn rồi, đã hạ bò và súc vật béo tốt rồi, mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới”. Những người ấy đã không đếm xỉa gì và bỏ đi: người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán; những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi. Khi vua nghe biết, liền nổi cơn thịnh nộ, sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó, và thiêu huỷ thành phố của chúng. Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: “Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Các đầy tớ liền đi ra đường, gặp ai bất luận tốt xấu, đều quy tụ lại và phòng cưới chật ních khách dự tiệc.
Ðoạn vua đi vào quan sát những người dự tiệc, và thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới. Vua liền nói với người ấy rằng: “Này bạn, sao bạn vào đây mà lại không mặc y phục lễ cưới?” Người ấy lặng thinh. Bấy giờ vua truyền cho các đầy tớ rằng: “Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng! Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít”.
--------------------
1. Tiệc cưới đã sẵn sàng--Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ.
Suy Niệm
Dụ ngôn hôm nay nói về một tình yêu bị từ chối.
Chẳng có gì long trọng và tưng bừng cho bằng tiệc cưới của hoàng tử.
Tiệc cưới này do chính nhà vua khoản đãi với sự chuẩn bị chu đáo.
Vua đã mời các quan khách từ trước, và còn mời nhiều lần sau đó.
Trước những lời mời trân trọng của nhà vua, họ đã chối từ.
Thái độ của quan khách thật không sao hiểu nổi.
Họ chẳng sợ xúc phạm đến nhà vua khi coi chuyện đi buôn và chăn nuôi
quan trọng hơn chuyện dự tiệc cưới hoàng tử (c. 5).
Thậm chí có kẻ còn bắt các đầy tớ, hành hạ và giết đi (c. 6).
Những khách quý bây giờ trở thành kẻ sát nhân.
Họ sẽ phải chịu cơn thịnh nộ ghê gớm của nhà vua về sự xúc phạm đó.
Như thế tiệc cưới cho hoàng tử sẽ đi về đâu?
Ai là người sẽ được mời tiếp theo, khi những người trước tỏ ra bất xứng?
Nhà vua đã đưa ra một quyết định rất bất ngờ.
“Hãy đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới” (c. 9).
Như thế phòng tiệc bây giờ vẫn đầy người được mời, có cả tốt lẫn xấu.
Dụ ngôn trên đây lại được kết nối với một dụ ngôn khác.
Chúng ta ngạc nhiên khi thấy nhà vua đi vào phòng tiệc
để quan sát cách ăn mặc của những vị khách đến từ đường phố (c. 11).
Có người không mặc y phục lễ cưới và đã bị trừng phạt nặng nề (c. 13).
Tại sao lại phạt anh, khi anh bất ngờ được đưa vào ăn cưới?
Nhưng đừng quên các người khác đều mang y phục lễ cưới đầy đủ,
nên anh chẳng nói được gì để tự biện minh (c. 12).
Lịch sự với Thiên Chúa là điều ta dễ quên.
Ngài vẫn trân trọng mời ta dự tiệc chung vui với Ngài, với Con của Ngài.
“Mọi sự đã sẵn, mời quý vị đến dự tiệc cưới” (c. 4).
Đối với Ngài, sự hiện diện của chúng ta đem lại niềm vui lớn.
Khi đa số dân Do-thái, những khách quý được mời trước, từ chối Ngài,
Ngài đã không muốn phòng tiệc bị trống, tiệc cưới bị đình hoãn.
Thiên Chúa chấp nhận mở cửa phòng tiệc cho mọi người.
Họ đến từ muôn phương, có người tốt người xấu, để làm nên Giáo hội.
Giáo hội gồm những người được mời và được gọi một cách nhưng không.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần lịch sự với Thiên Chúa, người chủ tiệc,
cần mặc y phục lễ cưới một cách đàng hoàng.
Y phục ấy chính là một đời sống nghiêm túc theo giáo huấn của Đức Giêsu.
Các kitô hữu chúng ta đã được ngồi trong phòng tiệc của Thiên Chúa.
Chúng ta đã được mời và được gọi để sống trong Giáo hội,
nhưng chưa chắc chúng ta nằm trong số những người được tuyển chọn.
Số người được chọn bao giờ cũng ít hơn số người được gọi.
Để vào số những người được chọn, chúng ta phải biết trân trọng ơn ban.
Có khi chúng ta cũng coi chuyện buôn bán làm ăn của mình
quan trọng hơn những lời mời khẩn thiết đến từ Thiên Chúa.
Làm thế nào để chúng ta giữ được ơn cứu độ Chúa đang ban hôm nay?
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
xin thương nhìn đến Hội Thánh
là đàn chiên của Chúa.
Xin ban cho Hội Thánh
sự hiệp nhất và yêu thương,
để làm chứng cho Chúa
giữa một thế giới đầy chia rẽ.
Xin cho Hội Thánh
không ngừng lớn lên như hạt lúa.
Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước,
đừng để dễ dãi làm chúng con ngủ quên.
Ước gì Hội Thánh trở nên men
được vùi sâu trong khối bột loài người
để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh.
Ước gì Hội Thánh thành cây to bóng rợp
để chim trời muôn phương rủ nhau đến làm tổ.
Xin cho Hội Thánh
trở nên bàn tiệc của mọi dân nước,
nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do.
Cuối cùng xin cho chúng con
biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời,
nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh.
Ước gì khi thấy Hội Thánh ở trần gian,
nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên. Amen.
2. Không mặc y phục lễ cưới--Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.
Suy Niệm
"Thiên Chúa chúng ta chỉ toàn đưa ra những cấm đoán",
một bạn trẻ đã bực bội nói như vậy
khi anh nhớ lại nền giáo dục mình phải chịu.
Thật ra Thiên Chúa không phải là người khắt khe.
Ngài mời chúng ta đến dự tiệc vui, tiệc cưới.
Ngài thích chia sẻ niềm vui và sự sống cho con người.
Ngài cần con người đáp lại lời mời đó,
để sự hiệp thông giữa đôi bên được trọn vẹn.
Có ai nếm được nỗi chờ mong của Thiên Chúa không
khi khách mời không chịu đến?
Có ai nếm được nỗi đau của Thiên Chúa không
khi con người hờ hững trước bữa tiệc
mà Ngài đã đặt vào đó cả lòng mình?
Tôi có trăm ngàn lý do để từ chối lời mời:
Chuyện làm ăn, chuyện học hành,
chuyện gia đình, bè bạn, chuyện giải trí,
chuyện lo cho sự nghiệp tương lai...
Tôi có nhiều thứ ưu tiên khác
nên việc đến gặp gỡ Thiên Chúa bị đẩy xuống hàng thứ yếu.
Biết bao lần chúng ta lỡ hẹn với Ngài,
từ chối niềm vui và sự sống đích thực
để chạy theo những cái bóng.
Nhưng Thiên Chúa vẫn cứ sai người đi mời.
Bàn tiệc lúc nào cũng sẵn sàng.
Vấn đề là tôi có đến không,
tôi có đặt Chúa lên trên những bận tâm về mình không?
Dân tộc Do Thái chính thức được mời dự tiệc.
Thiên Chúa đă sai đến với dân Ngài yêu mến
những ngôn sứ và những nhà rao giảng Tin Mừng.
Nhưng họ đã khước từ và một số bị giết đi.
Bữa tiệc linh đình vốn dành cho khách quý
nay trở thành bữa tiệc cho mọi người
mà các đầy tớ tình cờ gặp ngoài đường phố.
"Từ phương đông, phương tây, nhiều người sẽ dự tiệc
cùng các tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp..."
Chúng ta là dân ngoại, được mời vào phòng tiệc,
được gia nhập Hội Thánh qua phép Rửa.
Có người đã vào phòng tiệc mà vẫn bị mời ra,
vì không mang y phục lễ cưới.
Có người theo đạo mà vẫn không được vào Nước Trời
vì họ đánh mất tấm áo trắng ngày Rửa tội.
Chúng ta phải coi chừng
kẻo lại rơi vào sự tự mãn như người Do Thái.
Được làm con cái Chúa, được sống trong Hội Thánh
đó không phải chỉ là những ơn để nhận, mà còn là ơn để sống.
Mặc y phục lễ cưới là thực sự đổi đời,
là cho thấy mình coi trọng bữa tiệc của Chúa.
Chúng ta phải thường xuyên tự hỏi
mình có mặc y phục lễ cưới không?
Gợi Ý Chia Sẻ
Thiên Chúa mời chúng ta chung hưởng hạnh phúc với Ngài, nhưng chúng ta luôn có lý do để từ chối lời mời đó. Bạn nghĩ gì về chỗ đứng của Chúa trong đời bạn?
Có những Kitô hữu bị loại khỏi Nước Trời và sa hoả ngục. Bạn tin có hỏa ngục không? Bạn có sợ hỏa ngục không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa.
Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa,
quên đi chính bản thân,
yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.
Xin cho con biết tự hạ,
biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.
Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa.
Ước gì con biết nhận từ Chúa
tất cả những gì xảy đến cho con
và biết chọn theo chân Chúa luôn.
Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.
Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.
Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.
Và để con hưởng nhan Chúa đời đời. Amen. (Thánh Âu-Tinh).
3. Không xứng đáng--Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.
Bài Tin Mừng tuần trước làm chúng ta sửng sốt
vì chẳng những các tá điền không nộp hoa lợi đúng thời,
lại còn bắt giết các đầy tớ và cả con trai của chủ vườn nho.
Bài Tin mừng hôm nay làm chúng ta kinh ngạc không kém.
Chẳng có gì vui bằng tiệc cưới,
hơn nữa lại là tiệc cưới được vua tổ chức cho hoàng tử.
Nhà vua hẳn đã chuẩn bị chu đáo cho biến cố lớn lao này.
Vua đã mời nhiều quan khách đến tham dự.
Hân hạnh biết bao cho những ai được nhà vua mời !
Họ có mong ngày ấy mau đến không?
Khi ngày ấy đến, nhà vua sai đầy tớ nhắc lại lời mời.
Nhưng các quan khách ngoan cố không muốn đến.
Một nhóm đầy tớ thứ hai được sai đi,
lặp lại lời mời của nhà vua, cho biết cỗ bàn đã sẵn sàng,
Nhưng các khách mời lại nhún vai bỏ đi,
vì họ đang bận tâm làm một việc khác.
Kẻ thì đi thăm nông trại, kẻ thì đi buôn.
Có kẻ lại túm lấy các đầy tớ của vua mà hành hạ rồi giết đi.
Chúng ta không hiểu tại sao
đi thăm nông trại hay đi buôn lại cần gấp đến thế,
và quan trọng hơn cả chuyện dự tiệc cưới của hoàng tử.
Tại sao các khách mời lại có thể bỏ qua một vinh dự như vậy?
Nhà vua và hoàng tử hẳn thấy mình bị coi thường,
khi việc tổ chức tiệc cưới hoàng gia bị thất bại.
Các vị khách không muốn chia sẻ niềm vui lớn của nhà vua.
Họ không đáp lại sự trân trọng mà nhà vua dành cho họ,
nên họ không xứng đáng được dự tiệc nữa.
Và những kẻ giết đầy tớ của vua sẽ bị trừng phạt đích đáng.
Tiệc cưới vui của hoàng tử hóa ra chuyện buồn, đầy chết chóc.
Nhưng nhà vua không muốn tiệc cưới bị thất bại.
Phải mời người khác đến dự thay cho các khách đã từ chối.
Và một lần nữa, các đầy tớ lại đi khắp các ngả đường để mời.
Gặp ai cũng mời, bất luận tốt xấu.
Các người được mời lần này không phải là những vị khách quý,
nhưng là những người tình cờ gặp ngoài đường.
Và họ đã mau mắn đáp lại ngay,
nên chẳng mấy chốc phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.
Thiên Chúa thích chia sẻ niềm vui với con người.
Ngài mời con người đến dự tiệc hiệp thông để được cứu độ.
Không phải chỉ mời một đôi lần, nhưng mãi mãi cho đến tận thế.
Trong dụ ngôn này, nhà vua tượng trưng cho Thiên Chúa,
Con của vua là Đức Giêsu,
đầy tớ là các ngôn sứ và môn đệ Ngài sai trước và sau phục sinh,
quan khách là dân Ítraen hay các nhà lãnh đạo Do-thái giáo.
Thiên Chúa mời dân Ngài đến dự tiệc cưới của Người Con,
nhưng họ đã đưa ra những lý do để từ chối.
Hôm nay, các kitô hữu vẫn được mời đến dự tiệc vui,
và chúng ta cũng có thể nại ra nhiều lý do để từ chối.
chuyện làm ăn, chuyện gia đình gấp gáp hơn chuyện ăn cưới.
Lời mời của Thiên Chúa bị coi nhẹ hơn bao mời mọc hàng ngày.
Món ăn trần gian hấp dẫn hơn món ăn do trời thiết đãi.
Các kitô hữu là những người từ mọi nẻo đường thế giới
đã chấp nhận lời mời, đã được vào tận phòng tiệc cưới.
Tiếc thay có người lại không mặc y phục lễ cưới cho đàng hoàng.
Y phục này là việc sống công chính theo Bài Giảng trên núi.
Chỉ mong chúng ta không chỉ được gọi, mà còn được chọn (Mt 22,14).
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Lắm khi con thấy mình thiếu lịch sự với Chúa,
nhưng lại khá lịch sự với người đời.
Con thường sợ làm người khác buồn,
sợ mình cư xử thiếu tế nhị,
nhưng con ít nghĩ đến chuyện làm vui lòng Chúa.
Con thường làm những gì con thích,
dù biết Chúa không ưa.
Con hay bắt Chúa phải đợi con,
vì con thường đặt Chúa sau nhiều thụ tạo khác.
Xin cho con lịch sự hơn với Chúa,
niềm nở đón Chúa vào nhà như ông Da-kêu,
và chú tâm như chị Maria ngồi lắng nghe Lời Chúa.
Để nếu con không thể tiếp Chúa như một vị khách quý,
thì ước gì con biết đón Chúa như một người bạn thân.
4. Mặc áo cưới--TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Với tình thương yêu, Thiên Chúa dọn tiệc mời.
Đọc dụ ngôn tiệc cưới, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời con người đến dự tiệc cưới Con của Người. Điều đó chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương con người.
Đó là một tình yêu nhưng không.
Thiên Chúa là vị vua cao sang. Ta chỉ là đám tiện dân hèn hạ. Sao Chúa lại mời ta. Theo lẽ thường ở đời người ta chỉ mời những người ngang vai bằng vế. Một bữa tiệc thường có mục đích củng cố uy tín của chủ nhân và ràng buộc khách mời vị vọng để khi hữu sự cần nhờ. Vua Trời mời tiện dân hèn hạ thì có lợi gì. Không những hèn hạ mà còn đui, què, mẻ, sứt nữa. Ta là những hạng rác rưởi của xã hội, chẳng có gì đền đáp cho chủ nhân. Chẳng đem lại một chút vinh dự nào cho chủ nhân. Thế mà Người vẫn mời ta. Rõ ràng là do tình thương của Người. Đó là tình yêu nhưng không. Người không mong ta có gì đền đáp. Người mời ta chỉ vì yêu thương ta mà thôi.
Đó là tình yêu chia sẻ.
Thiên Chúa tràn đầy vinh quang không còn thiếu thốn gì. Tại sao Người còn mời những con người hèn hạ vào Nước Trời làm gì cho thêm bận. Thưa vì Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Người vô biên nên Người khao khát chia sẻ. Người vô cùng tốt lành nên Người muốn thông ban hạnh phúc cho loài người. Tình yêu mãnh liệt khiến người nảy sinh những sáng kiến kỳ diệu. Cho Con Một mặc lấy bản tình loài người để nâng loài người lên. Mời gọi loài người vào hưởng hạnh phúc với Người. Nâng loài người hèn hạ lên bậc thượng khách trong tiệc cưới. Nâng loài người tôi tớ lên hàng con cái trong Nước Trời. Đưa nhân loại bơ vơ đầu đường xó chợ vào ngồi đồng bàn với hàng thần thánh trên trời.
Chẳng có gì có thể giải thích được thái độ của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu. Đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và hoàn toàn vô vị lợi. Tình yêu muốn chia sẻ hết những gì mình có. Tình yêu hoàn toàn vì người mình yêu. Mong muốn mọi sự tốt đẹp cho người mình yêu.
Tôi phải mặc áo cưới tới dự.
Tình yêu Thiên Chúa tha thiết nhưng vẫn tôn trọng tự do. Trước lời mời gọi của Thiên Chúa, tôi có thể nhận lời hoặc chối từ. Khi dọn tiệc, Chúa mong tôi tới dự. Khi mở rộng cửa trời, Chúa mong tôi bước vào. Khi mời gọi, Chúa mong tôi trả lời. Khi bày tỏ tình yêu, Chúa mong tôi đền đáp. Tuy nhiên, nhận lời đền đáp đòi phải có điều kiện. Đến dự tiệc cưới phải mặc áo cưới.
Mặc áo cưới là mặc lấy nhân phẩm. Được mời vào dự tiệc cưới Con Vua, tôi không còn là phường rác rưởi của xã hội nữa. Tôi đã được Chúa trân trọng. Nâng lên hàng thượng khách, là khách mời của Vua. Mặc áo cưới ở đây là tự trọng, cư xử như người tự do. Chúa đã phục hồi nhân phẩm cho tôi, tôi phải trân trọng giữ gìn.
Mặc áo cưới là mặc lấy tình yêu. Vì yêu thương Chúa đã mời tôi vào chung hưởng hạnh phúc với Người trong tiệc cưới. Đáp lại, tôi phải có tình yêu mến đối với Người. Tình yêu đáp đền tình yêu. Mặc áo cưới là trân trọng tình yêu của Chúa, là muốn đáp lại tình yêu của Chúa.
Mặc áo cưới là mặc lấy Chúa Kitô (x. Gl 3,27). Được ơn cứu độ, ta trở thành em Chúa Kitô, vì thế ta phải noi gương Người mặc lấy tâm tình người con được Cha yêu thương và biết lấy tâm tình hiếu thảo đáp lại tình Cha. Mặc lấy Chúa Kitô cũng là mặc lấy con người mới là hình ảnh của Thiên Chúa công chính và thánh thiện (x. Ep 4,24).
Thiên Chúa yêu thương mời gọi ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đáp lại, ta phải đổi mới đời sống cho phù hợp với Nước Chúa, với tình yêu của Chúa và với địa vị mới của ta.
Lạy Chúa, xin cho con biết mạnh dạn đáp lại lời Chúa mời gọi.
GỢI Ý CHIA SẺ
1) Hằng ngày Chúa vẫn mời gọi tôi đến dự tiệc Thánh Thể, tôi có mau mắn đáp lời hay tôi thường từ chối?
2) Mặc áo cưới là theo Chúa quyết liệt, không nửa vời tôi theo đạo nhưng tôi có thực hành Lời Chúa không?
3) Bạn phải làm những gì để được coi là “mặc áo cưới”?
5. Cùng đích cuộc đời--TGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Cuộc đời con người rồi sẽ kết thúc ra sao? Đâu là tương lai hậu vận của con người? Những người làm việc lành và những kẻ ác nhân liệu sẽ có một kết thúc khác nhau? Đó là những vấn nạn được đặt ra ở mọi thời đại, mọi nền văn hoá và mọi giai tầng xã hội. Để trả lời, Kinh Thánh khẳng định với chúng ta: tương lai con người sẽ giống như một tiệc cưới. Ai cũng được mời, nhưng không phải ai cũng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn trong ngày vui đó.
Hình ảnh tiệc cưới được sử dụng nhiều lần trong giáo huấn của Đức Giêsu. Tiệc cưới diễn tả niềm vui của người tin Chúa ngay khi họ còn sống ở đời này và hạnh phúc vĩnh cửu mà sau này họ sẽ đạt được. Trong Cựu Ước, hình ảnh tiệc cưới hoặc bữa tiệc vui cũng diễn tả mối tương quan thân thiết giữa Thiên Chúa với con người, làm cho con người được hạnh phúc trọn vẹn và lâu dài. Đích điểm tối hậu của đời sống con người là được sống với Chúa. Khi ấy, niềm vui sẽ tràn đầy, như trong một bữa tiệc thịnh soạn, đầy đủ rượu ngon, thịt béo, không còn khóc lóc và tang chế nữa. Đó cũng là hình ảnh diễn tả sự can thiệp của Thiên Chúa để giải phóng dân tộc Do Thái khỏi cảnh lưu đày (Bài đọc I). Khung cảnh bữa tiệc thịnh soạn và chan chứa niềm vui còn được nhắc tới trong Thánh vịnh 22 được hát lên trong Phụng vụ hôm nay (Đáp ca).
Chúa Giêsu muốn dùng hình ảnh bữa tiệc cưới để nói về Nước Trời với công thức quen thuộc: Nước Trời giống như… Ai ai cũng được mời dự bữa tiệc trọng đại này, dù họ thuộc về nền văn hóa hay ý thức hệ nào. Hình ảnh bữa tiệc cưới mà Chúa Giêsu nói đến là bữa tiệc cưới của một vị vua, tổ chức cưới cho hoàng tử là người sẽ kế vị mình. Vì là tiệc cưới của con vua, nên mọi sự chuẩn bị rất cẩn trọng và chu đáo. Những thực khách đã được ông chủ trân trọng mời trước, nay đến ngày tổ chức tiệc, họ được mời lại lần nữa. Một điều thật trớ trêu, đó là sự chu đáo và trân trọng của chủ được đáp lại bằng thái độ coi thường, thậm chí bằng bạo lực. Nhiều thực khách viện đủ cớ để vắng mặt trong bữa tiệc, có những lý do lãng xẹt, chứng tỏ sự coi thường trước thịnh tình của chủ tiệc. Sự vô ơn của họ còn được thể hiện qua hành động côn đồ và dã man, đến mức bắt các đầy tớ của vua để hành hạ và giết chết. Điều này đã khiến nhà vua nổi cơn thịnh nộ. Những kẻ ngang ngược đã bị tru diệt. “Rượu mời không muốn, lại muốn rượu phạt”, khiến ông chủ nổi giận. Tấm thịnh tình của ông biến thành cơn giận. Đám cưới đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu, biến thành đẫm máu do sự gian trá và độc ác của một số thực khách vô luân.
Đọc lịch sử Cứu độ, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa dùng nhiều cách thế để kêu gọi con người sống thánh thiện. Lời mời gọi của Chúa được nhiều người đón nhận, nhưng cũng có nhiều người khước từ. Họ yêu vật chất và vinh hoa trần thế hơn là đời sống thánh thiện mà Thiên Chúa đề nghị. Họ ngại phải từ bỏ. Họ sợ phải hy sinh. Họ không muốn bước ra khỏi vỏ bọc của sự ích kỷ và tham lam của mình. Họ giống như những thực khách được mời, kiếm cớ để từ chối lời mời rất trân trọng của ông chủ tiệc. Việc đi tham dự tiệc cưới là một vinh dự, mà bị họ coi như gánh nặng và nô dịch. Việc sống đạo đức là một niềm vui, mà bị họ coi như những hủ tục nhàm chán lỗi thời. Trải qua mọi thời đại, vẫn còn đó những người khước từ lời mời gọi nên thánh để được hưởng Nước Trời.
Nơi người Do Thái vào thời Chúa Giêsu, vẫn tồn tại một não trạng “tự tôn”, cho rằng Thiên Chúa là của riêng họ và chỉ có họ mới được hưởng hạnh phúc Nước Trời. Qua dụ ngôn tiệc cưới, Chúa Giêsu muốn khẳng định: Người Do Thái hay dân ngoại, bất kỳ ai tin vào Chúa và thực thi Lời Ngài thì sẽ được vào dự “tiệc cưới”, tức là được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ. Như thế, là người Do Thái không có nghĩa đương nhiên được một “tấm vé” để vào Nước Trời, nhưng hạnh phúc Nước Trời là kết quả của một cuộc đời cố gắng không ngừng để diệt trừ tội lỗi, gia tăng nhân đức.
Giáo huấn của Chúa Giêsu, Nước Trời được gửi đến cho toàn thể nhân loại. Chính Người là Tin Mừng cho muôn dân. Tất cả mọi người đang sống dưới gầm trời này, dù muốn dù không, họ cũng thuộc về Thiên Chúa. Ai ai cũng được mời gọi gia nhập Dân Chúa là Giáo Hội, để đón nhận giáo huấn của Chúa và làm cho sinh hoa kết trái trong cuộc đời, tức là được dự tiệc cưới Thiên Chúa sẽ tổ chức vào lúc tận cùng thời gian. Có nhiều người dù chưa được rửa tội, nhưng họ cũng thuộc về Chúa khi họ sống theo tiếng nói của lương tâm và sống công bằng ngay thẳng trong cách đối xử với anh chị em. Họ là những người đang kiếm tìm Thiên Chúa qua việc kiếm tìm Chân Lý và những giá trị vĩnh cửu làm tâm điểm cho cuộc đời mình. Thánh Phaolô là một mẫu gương cho chúng ta trong đời sống Đức tin. Người đã khẳng định: Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết. Quả vậy, nhờ cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ vượt thắng mọi gian nan, chấp nhận mọi hoàn cảnh và kiên trì trong mọi quẫn bách (Bài đọc II).
Được đọc dưới ánh sáng Phục Sinh, dụ ngôn tiệc cưới còn giúp cho các độc giả liên tưởng đến hình ảnh Chúa Giêsu là vị Hoàng Tử của Thiên Chúa Cha. Ngày hôm nay, Chúa Cha vẫn đang tổ chức tiệc cưới cho Con Một mình. Ai trong chúng ta cũng được mời. Tuy vậy, một điều kiện không thể thiếu khi dự tiệc cưới là chúng ta phải có y phục lễ cưới. Y phục lễ cưới mà Chúa Giêsu muốn nói tới, đó là tâm tình yêu mến, sự tuân phục Thánh ý Chúa và tình huynh đệ đối với anh chị em mình. Y phục lễ cưới được nhắc tới trong bài Tin Mừng như một điều kiện và một kiến thức căn bản, không ai có thể biện minh rằng mình không biết. Điều đó cho thấy, mỗi chúng ta đang sống trong Giáo Hội, “y phục lễ cưới” chính là tình trạng thường xuyên của một tâm hồn thánh thiện, mến Chúa yêu người và mong muốn những điều tốt đẹp cho anh chị em đang sống xung quanh mình. Ngày lãnh nhận phép Thanh Tẩy, chúng ta được vị linh mục chủ sự mặc cho một chiếc áo trắng với lời nhắn nhủ hãy “mặc lấy Chúa Kitô – Mặc lấy con người mới” (x. Ep 4,24). Như thế, chiếc áo cưới chúng ta mặc hằng ngày là chính Chúa Giêsu, Đấng đã yêu thương ta và chịu chết vì ta. Nhờ tấm áo cưới này mà chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Người.
Trở lại với những vấn nạn được đặt ra ở trên, chúng ta tìm thấy câu trả lời: tương lai của chúng ta là hạnh phúc Nước Trời. Số phận kẻ dữ và người lành không giống nhau. Tiệc cưới chính là hình ảnh để diễn tả cùng đích cuộc đời. Ông chủ là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên chúng ta và mong muốn cho chúng ta được hạnh phúc.
6. Tiệc cưới hoàng tử--ViKiNi--‘Xây Nhà Trên Đá’--Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm
Tiệc cưới nào cũng được gia đình tổ chức hết sức trang trọng theo khả năng của mình. Tiệc cưới hoàng tử càng biểu lộ vinh quang trang trọng của cả nước. Ngày 03/04/1985 (?). Hoàng hậu Elizabeth Anh quốc, đã mở tiệc cưới hoàng tử Charles đẹp duyên cùng công nương Diana. Khách mời là những vua chúa, Hoàng hậu, Tổng thống, Thủ tướng của hơn hai chục nước trong Liên hiệp Anh. Những hoàng tử của các nước xa xôi ngoài Liên hiệp cũng được mời dự tiệc cưới, như hoàng tử Nhật. Ai được mời đều lấy làm hết sức vinh dự. Cho nên, không ai từ chối, mà còn mong ước chóng được tới dự.
Chúa Giêsu dùng hình ảnh tiệc cưới hoàng tử để nói về vinh quang, vui mừng và hạnh phúc vô cùng của nước Trời. Nhưng những khách được mời ưu tiên thì lại từ chối, không đếm xỉa tới những ân huệ vinh quang Thiên Chúa ban. Họ còn có những thái độ khinh bỉ ngạo mạn coi tiệc cưới hoàng tử không bằng đi thăm trại súc vật, không bằng đi buôn bán lặt vặt; kinh khủng hơn nữa, dám bắt các đại diện của vua đi mời xỉ nhục và giết chết.
Khi so sánh khách dự tiệc cưới của con vua dưới đất với khách được mời dự tiệc con vua nước Trời như vậy, Chúa Giêsu thấy một cảnh trái ngược, thật chua xót biết bao!
Những hạng người từ chối dự tiệc nước Trời vì những lối sống sau đây:
Lối sống thứ nhất là đi thăm trại: Một công việc quá tầm thường. Họ không phải chăn nuôi, chăm sóc, cầy cấy như các đầy tớ. Họ là những ông chủ, nhàn rỗi, lúc nào đến xem xét, thăm nom tùy ý thôi. Thế mà họ dám coi thường tiệc cưới hoàng tử trọng đại của nhà vua. Mấy khi trong đời ai có dịp vinh phúc như thế! Phải chăng khi nói đến hạng người này, Đức Giêsu buồn lòng về những ông chủ đứng đầu đạo đời dân Do thái. Họ những thành phần địa vị cao cấp ưu tuyển, lại đi làm những việc sai trái, bỏ bổn phận cao trọng đối với Thiên Chúa và những nhiệm vụ quan trọng đối với dân nước. Họ chỉ lo tìm tư lợi cá nhân để vinh thân phì gia. Họ coi trời bằng vung, không còn biết Đấng trên đầu mình nữa.
Lối sống thứ hai là đi buôn: Một công việc kiếm lời nhặt lãi. Họ mê man kiếm tiền của, tham lam vơ vét, cạnh tranh, giành giựt nhau từng đồng bạc, từng tấc đất, từng bát gạo, từng bó rau, từng ly rượu, từng điếu thuốc, từng số đề, số đuôi. Thật bần tiện, bủn xỉn, họ chẳng cần tình nghĩa cao đẹp, dầu là tình nghĩa với nhà vua, với Thiên Chúa. Phải chăng đó là lối sống của dân Do thái, của ích kỷ, hà tiện, không có lòng bác ái, chỉ biết bo bo lấy mình, họ kỳ thị loại trừ những ai không phải là đồng đạo, đồng bào. Hạng người đó không thể được ngồi chung với muôn dân trong nước Trời.
Lối sống thứ ba là bắt bớ, xỉ nhục và giết người vô tội. Những đầy tớ của vua sai đi mời thật tử tế, là những kẻ vô tội, chỉ lo làm bổn phận mình đem ân huệ đến cho họ, thế mà bị họ bắt bớ, xỉ nhục, giết đi. Họ chẳng biết thương yêu, tử tế là gì! Họ không còn biết ai là người lành. Họ quá chai đá với những cảnh căm thù, phá hoại, sát nhân. Bao nhiêu trẻ thơ vô tội, dân lành bị họ bắt làm bia đỡ đạn cho những tham vọng cướp ngôi, cướp quyền. Bao nhiêu những tiên tri, những thánh nhân tử đạo do những hạng đầu óc hẹp hòi, mù quáng, độc tài. Họ là những Hêrôđê bố, Hêrôđê con đã giết hài nhi vô tội, giết Gioan tẩy giả. Họ là những thượng tế Anna và Caipha, những luật sĩ và biệt phái. Những Philatô, Giuda và quân dữ đã cả gan nhúng tay vào giết Con Một Thiên Chúa.
Lối sống thứ bốn là không mặc áo cưới: Thuần phong mỹ tục coi lễ cưới là ngày lễ trọng đại của gia đình, tất nhiên có nghi thức long trọng với những trang phục đẹp đẽ chỉnh tề. Những hạng người bê bối thô lỗ tục tằn, vô lễ, vô kỷ luật đều bị loại bỏ vì nó bôi nhọ nếp sống văn hóa trong sáng và đạo đức thanh nhã. Nêu ra hạng người này, chắc hẳn thánh Matthêu đã thấy cảnh những Kitô hữu bất chính, theo đạo kiếm gạo mà ăn chứ không sống theo thánh ý Chúa. Thánh Phaolô đã thấy cái cảnh đó trong giáo đoàn Côrintô: Những phụ nữ đến cầu nguyện hoặc nói tiên tri ăn mặc bất xứng không theo truyền thống (1Cr. 11,15). Những tín hữu đến dự tiệc Chúa ăn uống say sưa, khinh dể, vô phép với cộng đoàn Hội thánh của Chúa, làm nhục kẻ nghèo. “Vì thế bất cứ ai ăn bánh hay uống chén của Chúa cách bất xứng, thì phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình... để khỏi bị án phạt” (1Cr. 11, 21-22 và 27-29, 34)
Tất cả những hạng người có những lối sống như trên đều bị “Nhà vua sai quân đến tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng. Rồi nhà vua bảo gia nhân ra các ngã đường, gặp ai mời tất cả vào tiệc cưới” (Mt. 22, 7-9).
Theo phong tục của nhiều dân tộc xưa, tiệc cưới hoàng tử chẳng những các đại thần được ưu tiên mời, mà còn tất cả thần dân đều được hưởng lộc của nhà vua. Tiệc cưới hoàng tử nước Trời chẳng những ưu tiên cho dân tộc Do thái, mà còn cho toàn thể muôn dân, vì toàn thể nhân loại đều là thần dân của Ngài. Như tiên tri Isaia đã loan báo: “Chúa tể trời đất sẽ thiết tiệc đãi muôn dân” (Is. 25, 6).
Vua trời đất đã mời mọi người chúng ta vào nước Trời, không phải bốn năm lần mà trăm ngàn lần, từ xưa đến nay. Không phải chỉ có đầy tớ như tiên tri, tông đồ, Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục mà còn chính Con Một Thiên Chúa giáng trần chịu chết tế lễ lấy Thịt Máu châu báu mình đến mời chúng ta vào dự tiệc nước Trời. Chúng ta đáp lại lời mời diễm phúc đó bằng lối sống nào? Chúng ta lấy làm vinh phúc, khao khát, vui mừng, siêng năng đón nhận; hay như hạng khinh nhờn, thờ ơ, nguội lạnh khô khan, nổi loạn, vô kỷ luật, thì khốn cho chúng ta, sẽ có ngày bị tru diệt.
Lạy Chúa, xin cho con nhận biết rằng: Tiệc thánh nước Trời, không phải là thịt béo bò tơ, thú quý, rượu ngon nuôi thân xác tro tàn, mà là lời Chúa, Mình Máu Chúa, ơn cứu độ và tình thương vô bờ của Chúa nuôi tâm hồn con muôn đời. Nhờ đó, thánh Phaolô, dù sống trong tù ngục thiếu thốn vẫn thấy Chúa thỏa mãn mọi nhu cầu một cách tuyệt vời theo sự giàu sang của Người trong Đức Kitô Giêsu. Xin cho con biết sống mạnh mẽ như thánh Phaolô để tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng con đến muôn thuở muôn đời. Amen. (Phil. 4, 12. 14. 19-20)
7. Thiên Chúa mời, nhưng con người tự do--Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.
Bài đọc Cựu Ước trong sách tiên tri Ysayah và bài Tin Mừng đều đề cập đến bàn tiệc. Ai cũng hiểu đây là một kiểu nói để diễn tả một thực tại siêu vượt: Nước Trời. Thiên Chúa mời và muốn tất cả vào dự tiệc, nghĩa là vào Nước Trời; nhưng không phải tất cả mọi người đều đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa.
1. Thiên Chúa mời con người chia sẻ sự sống vĩnh cửu
Ngày đó Thiên Chúa sẽ thiết tiệc đãi mọi dân tộc, thịt béo rượu ngon. Ngày đó Thiên Chúa cất tấm khăn tang, không còn những chuyện buồn phiền nữa. Ngay cả cái chết, Ngài cũng hủy diệt. Chính Thiên Chúa sẽ lau khô những giọt lệ, chính Ngài sẽ ủi an dân Ngài.
Tất cả những điều trên là dấu chỉ của Nước Trời, nơi đó Thiên Chúa sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của con người, nơi đó con người sẽ được toại nguyện và hạnh phúc. Thiên Chúa là nguồn mọi hy vọng của con người. Ngài không chỉ là Đấng thoả mãn nhu cầu vật chất, cho con người lương thực hằng ngày, hoặc thịt béo rượu ngon; nhưng Ngài còn đong đầy mọi hy vọng, Ngài biến đổi lòng người, Ngài là Đấng cứu độ.
Dự tiệc “Nước Trời” là hồng ân Thiên Chúa ban cho con người, cho mọi dân tộc chứ không chỉ riêng cho dân tộc Do Thái, cho mọi người thành tâm thiện chí chứ không phải chỉ cho những người mang danh Công Giáo. Thiên Chúa muốn chia sẻ sự sống vĩnh cửu của Ngài với mọi người thuộc mọi dân tộc, vì nếu không vậy Ngài đâu tạo dựng họ. Ngài tạo dựng con người, để con người được chia sẻ sự sống thần linh với Ngài.
2. Những người từ chối sự sống đời đời
Ông vua trong dụ ngôn làm tiệc cưới cho con, đã cho người đi gọi những người được mời để họ đến dự tiệc cưới. Và những người được mời đã chọn làm điều họ quan tâm hơn việc đi dự tiệc của vị vua; hơn nữa, một số người không chỉ không đi, mà còn bắt các đầy tớ được sai tới, hành hạ và giết họ nữa.
Ông vua đã cho mời tất cả những người tìm được vào dự tiệc cưới của con ông; và người ta đã vào tiệc. Theo phong tục, khi vào phòng tiệc mọi người đều được mời mặc trang phục tiệc cưới do chủ tiệc cung cấp, ấy thế mà vẫn có một kẻ không chịu mang trang phục lễ cưới khi vào phòng tiệc.
Con người tự do trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương con người, tạo dựng con người vì yêu thương, và mời gọi họ vào Nước Trời để chia sẻ sự sống vĩnh cửu với Ngài cũng vì yêu thương. Tuy nhiên một số người đã từ chối không vào, họ đã không muốn dự tiệc cưới, và ngay cả có người bước vào bàn tiệc vẫn còn không muốn dự tiệc qua việc không mang trang phục lễ cưới. Ai không sống yêu thương, không thể vào Nước Trời ngay cả khi họ mang danh Kitô-hữu.
3. Cách sống của những người tự do đích thực
Những người chọn Thiên Chúa trên mọi sự, là những người sống hạnh phúc ở đời sau và ngay ở đời này. Họ tự do với những gì nhiều người theo đuổi: tiền bạc, danh vọng, tình duyên. Những người đặt quá nặng tiền bạc danh vọng dường như lúc nào cũng bận rộn, và họ sẵn sàng hy sinh “bàn tiệc hạnh phúc” thường ngày để làm việc. E rằng những người này không có tự do đích thực.
Sự tự do đích thực không chỉ là tự do làm theo như mình muốn, nhưng còn là làm những gì lý trí thấy như vậy là đúng là tốt. Con người là thực tại có thân xác, con người chịu những chi phối của những định luật vật lý. Con người không có tự do vật lý tuyệt đối nhưng con người có tự do luân lý. Con người có tự do để sống theo lý trí hay theo bản năng.
Thánh Phaolô có thể sống với mọi tình huống để rao giảng Lời Chúa cho những người ngài gặp gỡ. Ngài đã học để hành xử lúc no cũng như lúc đói, lúc nghèo cũng như lúc giầu. Bận tâm chính của Ngài là Thiên Chúa, và làm sao để cho mọi người được biết Chúa và sống hạnh phúc. Niềm cậy trông của Ngài cũng chính là Thiên Chúa. Ngài không tựa vào sức riêng của Ngài. Những gì người ta tặng cho ngài, ngài lãnh nhận và trân trọng; đồng thời hy vọng Thiên Chúa sẽ thỏa mãn mọi nhu cầu của những người đã rộng lượng giúp Ngài. Cách sống của Phaolô là cách sống của những người đã được cứu độ, chỉ có Thiên Chúa là nguồn hy vọng và hạnh phúc của Ngài.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Điều bạn mong ước nhất là gì?
2. Nếu bạn đạt được điều mong ước ở trên, bạn có hạnh phúc lắm không, và hạnh phúc này kéo dài bao lâu?
3. Theo bạn, điều gì đáng bạn mong ước nhất? Điều bạn mong ước có thể đạt được không? Làm sao để đạt được điều bạn mong ước?
8. Dự tiệc cưới Nước Trời--Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
A. DẪN NHẬP.
Bài Tin mừng hôm nay nói về bàn tiệc Nước Trời. Qua dụ ngôn ấy, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta biết: Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài mở rộng cửa để đón tiếp mọi người vào dự bàn tiệc Nước Trời. Lời mời gọi có tính cách rộng rãi, Ngài mời gọi mọi người không trừ ai, dù tốt dù xấu, miễn là phòng tiệc phải đầy người.
Tuy thế, lời mời gọi đó còn chờ sự đáp ứng của từng người, mỗi người có quyền tự do, họ có thể chấp nhận hay từ chối. Trong thực tế, nhiều người đã từ chối lời mời gọi thật tình đó. Nhiều người đã từ chối bằng cách viện ra những lý do không vào đâu như bận đi xem ruộng vườn, bận đi buôn bán hoặc làm bất kỳ một công việc nào khác.
Trước sự từ chối của dân Chúa, Thiên Chúa quay sang dân ngoại, mời họ vào Nước Trời cho thật đông để họ được thưởng thức những cao lương mỹ vị mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho họ. Tuy nhiên, muốn vào dự tiệc Nước Trời cũng phải có điều kiện: phải mặc áo cưới. Phải mặc y phục lễ cưới là phải có một sự hoán cải tâm hồn để xứng đáng là công dân Nước Trời.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+ Bài đọc 1: Is 25,6-9.
Tiên tri Isaia đã mô tả cho chúng ta hạnh phúc viên mãn trong thời sau hết. Đó là tiệc cưới mà Thiên Chúa dọn cho mọi người trên núi. Tiệc cưới có những cao lương mỹ vị, có bê béo, rượu ngon. Đấy là hình ảnh của hạnh phúc tối cao mà những người bạn của Chúa sẽ được hưởng. Trong bữa tiệc đó, người dự không những được thưởng thức những thức ăn ngon, mà còn được cất khỏi mọi buồn sầu tủi hổ, tang chế.
Hình ảnh mà Isaia mô tả là hạnh phúc Nước Trời được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người không phân biệt ai.
+ Bài đọc 2: Pl 4,12-14.19-20
Ở trong tù, thánh Phaolô viết thư gửi cho tín hữu Philipphê cho họ biết: những sự giúp đỡ vật chất của họ cũng không cần lắm vì một mặt Ngài đã quen sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất; hơn nữa, có Chúa giúp đỡ để ngài thắng lướt được mọi nghịch cảnh.
Ngoài ra, ngài vẫn trân trọng lòng hảo tâm của tín hữu đã giúp đỡ ngài. Tất cả những sự giúp đỡ ấy đều đáng qúi và Ngài xin Chúa đền đáp xứng đáng tấm lòng thơm thảo của họ,
+ Bài Tin mừng: Mt 22,1-14.
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn tiệc cưới để cho biết: Thiên Chúa muốn ban hạnh phúc Nước Trời cho dân Do thái, dân ưu tuyển của Ngài, nhưng rất tiếc họ đã từ chối vì họ chuộng những giá trị trần gian hơn. Trước sự từ chối đó, Thiên Chúa đã mời những người ngoại đạo vào Nước Trời thay cho dân Do thái, dân này đã từ chối không chịu vào Nước Trời vì họ đã bị các nhà lãnh đạo dẫn đường sai lạc.
Tuy nhiên, muốn vào Nước Trời phải có điều kiện: phải mặc áo cưới. Áo cưới đây ám chỉ sự hoán cải tâm hồn, một tâm hồn trong sạch, một tấm lòng bác ái yêu thương và một đức tin vững mạnh.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Đến dự tiệc Nước Trời
I. TÌM HIỂU DỤ NGÔN.
1. Phong tục tổ chức tiệc cưới.
a) Việc mời chia thành hai giai đoạn.
Những công việc diễn tiến trong dụ ngôn này hoàn toàn phù hợp với phong tục bình thường của dân Do thái. Đối với những bữa tiệc cưới, khi thiệp mời được gửi đi thì thời giờ không được xác định rõ, và khi mọi việc đã xong đâu vào đấy thì những người giúp việc mới ra đi mời lần cuối cùng xin quan khách đến dự. Như vậy, vị vua trong câu truyện này đã gửi thiệp mời dân lâu rồi, nhưng đến khi mọi việc sẵn sàng thì lời mời cuối cùng mới gửi đến và đã bị người ta từ chối.
Truyện: Tiệc cưới hoàng tử
Mùa xuân năm 1947, cả thế giới chú ý tới hàng tin lớn trên báo chí cho biết: công chúa Elizabeth của nước Anh sẽ đẹp duyên với hoàng tử Philippe, người Hy lạp. Cuộc tình duyên này quan trọng, bởi vì công chúa Elizabeth sẽ lên ngôi kế vị vua cha vì không những trên vương quốc Anh và Bắc Ái nhĩ lan, mà còn đứng đầu khối thịnh vượng lớn, gồm trên 50 quốc gia lớn nhỏ như Ấn độ, Canada, Úc, Tân tây lan... Ai cũng tò mò theo dõi lễ cưới lịch sử này. Cuộc lễ được tổ chức ngày 20.11.1947 tại tu viện cổ kính Westminter, nơi chôn cất các bậc vương quân và những nhân vật lớn nước Anh. Người ta không những theo dõi những nhân vật chính là cô dâu chú rể mà còn chăm chú điểm danh từng nhân vật lớn trên thế giới. Không ai được mời tới dự mà muốn vắng mặt, từ những vị nguyên thủ quốc gia đến các vị thủ tướng và các nhà chính trị, từ những nhà qúi tộc đến những nhà tỉ phú. Nói tắt, tất cả những nhân vật quan trọng hàng đầu của nước Anh và nhiều nước trên thế giới đều lấy làm vinh dự được mời và được xuất hiện trong lễ cưới long trọng đó (Phạm văn Phượng, Chia sẻ Tin mừng năm A, tr 215).
b) Khách được mời tham dự.
Theo phong tục của nhiều dân tộc xưa, tiệc cưới hoàng tử chẳng những các đại thần được ưu tiên mời, mà còn tất cả thần dân đều được hưởng lộc của nhà vua. Tiệc cưới hoàng tử Nước Trời chẳng những ưu tiên cho dân tộc Do thái, mà còn cho toàn thể muôn dân, vì toàn thể nhân loại đều là thần dân của Ngài. Như tiên tri Isaia đã loan báo:”Chúa Tể trời đất sẽ thiết tiệc đãi muôn dân”.
2. Ý nghĩa dụ ngôn.
a) Đối với người Do thái.
Đây là lời tố cáo đối với người Do thái: Quan khách đã được mời nhưng đến giờ lại từ chối không đến. Họ tiêu biểu cho người Do thái. Từ xưa họ đã được Thiên Chúa mời gọi làm dân tuyển chọn của Ngài, nhưng khi Con Chúa Trời xuống thế gian, và họ được mời gọi theo Ngài, tin nhận Ngài thì họ lại khinh dể, đã từ chối lời mời đó. Rốt cuộc lời mời của Thiên Chúa đến trực tiếp với những tội nhân và người ngoại bang, là những kẻ không bao giờ có kỳ vọng được mời vào Nước Trời.
Còn một chi tiết nữa là vua thịnh nộ với kẻ từ chối, lại còn sỉ nhục và giết các đầy tớ của vua, sai quân đi diệt những kẻ không nhận lời mời và đốt thành của chúng. Chi tiết này dường như không ăn nhập với việc mời dự tiệc cưới. Nhưng chúng ta nhớ lại, khi Matthêu viết sách Phúc âm của ông vào giữa năm 80-90 SC, những gì đã xẩy ra trong thời gian giữa lúc Chúa Giêsu sống và lúc viết sách Phúc âm? Câu trả lời là: kinh thành Giêsrusalem bị quân Rôma phá hủy khoảng năm 70 SC. Giêrusalem thực sự bị tàn phá, không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào, đền thờ bị cướp phá và bị đốt, tại hoạ này đã đến cho những kẻ không nhìn nhận Con Thiên Chúa khi Ngài đến trong thế gian.
b) Đối với mọi thời đại.
Lời mời gọi trong dụ ngôn này là lời mời gọi của Thiên Chúa đối với mọi người chúng ta. Được mời gọi vào dự tiệc cưới, tiệc cưới Con Thiên Chúa, là một vinh dự lớn lao, lại không phải mất tiền. Khi Kitô hữu được mời là được mời đến để vui vẻ, và chúng ta sẽ mất niềm vui nếu chúng ta không nhận lời mời.
Nhưng nhiều khi chúng ta lại từ chối lời mời gọi của Chúa vì những lý do chẳng ra cái gì như đi thăm ruộng, đi buôn bán... Người ta dễ bận rộn với điều tạm bợ và quên những điều liên quan tới đời đời. Quá bận tâm với những điều mắt thấy được thì dễ quên với những điều mắt không thấy được. Quá chăm chú nghe những lời mời gọi của thế gian, thì khó nghe được tiếng gọi êm dịu của Thiên Chúa.
Lời mời gọi của Chúa dành cho ta là lời mời gọi của ân sủng. Những kẻ được qui tụ là những nẻo đường không có quyền đòi hỏi gì nơi nhà vua cả. Họ không bao giờ có thể ngờ rằng mình sẽ được dự tiệc cưới và càng không xứng đáng để dự tiệc đó. Những việc xẩy đến với họ không bởi điều gì khác hơn là lòng quảng đại của nhà vua mở rộng đôi tay đón tiếp họ. Bởi ân sủng, lời mời được ban ra, và bởi ân sủng mà người ta được nhóm lại.
3. Dụ ngôn chiếc áo cưới.
Chúng ta có thể coi chiếc áo cưới là phần nối tiếp của dụ ngôn khách mời dự tiệc, hoặc coi như là một dụ ngôn riêng. Tuy coi như dụ ngôn riêng nhưng cũng là câu chuyện nối tiếp và giải rộng ý nghĩa câu truyện trước, trong câu truyện ở đây có một thực khách đến dự tiệc của nhà vua, nhưng không chịu mặc lễ phục.
Thuần phong mỹ tục coi lễ cưới là ngày lễ trọng đại của gia đình, tất nhiên có nghi thức long trọng với những trang phục đẹp đẽ chỉnh tề. Những hạng người bê bối thô lỗ tục tằn, vô lễ, vô kỷ luật đều bị loại bỏ vì nó bôi nhọ nếp sống văn hóa trong sáng và đạo đức.
Nếu ai nhận dụ ngôn chiếc áo cưới gắn liền với dụ ngôn trên thì thắc mắc: ra đường mời vào, ở giữa ngã ba đường cái thì làm gì có áo cưới? Trả lời cho thắc mắc đó, ta để ý: người đó không chữa tội gì cả, là dấu anh ta có lỗi, không cần biết nguyên do. Theo thói quen, thời xưa khách qua cửa đã có người trao áo cho, không biết người Do thái có thói quen nào? Có áo mà không mặc là lỗi tại mình vì thế nên không mở miệng chữa tội được câu nào.
Muốn vào dự tiệc cưới thì tối thiểu phải có y phục lễ cưới. Theo thánh Matthêu, muốn vào dự tiệc cưới trong nước Thiên Chúa thì mỗi người phải nhận thức rằng Giáo hội càng ngày càng đông, nhưng Giáo hội không phải là quán cơm bình dân, ai vào cũng được, không có một chút điều kiện tối thiểu. Đành rằng Chúa rất thương kẻ có tội và Giáo hội của Ngài đầy tội nhân hơn là các vị thánh, nhưng dù sao, muốn vào Giáo hội, Chúa cũng đòi hỏi có sự ước muốn trở lại chân thật, một “chiếc áo trắng rửa tội”, một sự ao ước “mặc lấy Chúa Kitô”.
Theo ý kiến của một số giáo phụ, chiếc áo cưới ám chỉ đức ái, tối thiểu là cuộc sống ăn ngay ở lành. Còn theo ý kiến của các nhà chú giải Thánh kinh hiện đại, thì chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải hay sự trở về, tức là tinh thần sám hối chân thật.
II. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA.
1. Dấn thân gia nhập vào Hội thánh.
Thiên Chúa mời gọi ta: Ngài muốn có những người tham dự tiệc cưới đó. Ngài có sáng kiến trước. Lời mời gọi đó được chuyển đến ta qua các vị sứ giả của Chúa, nhất là Chúa Kitô. Chúa Kitô đến trên trần gian để mời gọi ta và sửa soạn cho ta có bộ áo cưới, tức là cứu rỗi ta. Việc sửa soạn áo cưới được cụ thể hóa bằng việc mến Chúa yêu người, tức là đời sống đức tin nhờ ơn thánh.
Nhân loại chúng ta đáp lại lời mời gọi qua trung gian là Chúa Kitô và Giáo hội. Chúng ta đến dự tiệc cưới không phải với tính cách là “khách” mà thôi, nhưng còn với tư cách là con cái trong gia đình, nhờ đó sự vui vẻ thân mật càng tăng thêm. Hiện thời bữa tiệc đó đã bắt đầu nhờ Chúa Kitô vì ta đã có ơn thánh và hằng ngày tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể chờ ngày Chúa lại đến.
Tuy chấp nhận lời mời gọi của Chúa đâu phải là sự dấn thân mang tính chất nhất thời. Đó là một tiến trình đòi hỏi phải liên tục dấn thân và thích ứng bởi vì cuộc sống thường nhật rất dễ khiến chúng ta sao lãng và bỏ quên mất sự sống đời đời, bởi vì thức ăn tầm thường của cuộc đời này dễ nhét đầy bụng chúng ta và làm cho chúng ta quên đi bữa tiệc vĩnh cửu.
Chấp nhận lời mời của Chúa không chỉ là vấn đề gật đầu một lần rồi sau đó quên tuốt đi, và việc này giống như câu nói “Tôi đồng ý” trong hôn nhân. Câu “tôi đồng ý” này đâu phải là điểm kết cho một tiến trình mà chính là điểm khởi đầu. Nhận lời Chúa cũng giống như tốt nghiệp đại học bởi vì sự tốt nghiệp không phải là điểm kết thúc cho công cuộc học vấn mà chỉ là bệ phóng cho sự học hỏi tiến xa hơn mà thôi.
2. Dự tiệc Thánh Thể hằng ngày.
Qua các bài đọc Chúa nhật hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta tham dự bữa tiệc của Nước Trời. Trong Thánh kinh, nhiều bữa được nhắc đến: như bữa ăn tổ phụ Abraham khoản đãi ba người khách lạ dưới lều vải (St 18,1-8), như bữa tiệc người cha già mừng người con đi hoang trở về (Lc 15,22-32). Chúa Giêsu đã đi dự đám cưới ở làng Cana (Ga 2,1-10), Ngài cũng dọn bữa ăn cho các môn đệ sau một đêm lao lực (Ga 21,1-14), cho dân chúng được ăn no nê tự 5 chiếc bánh và 2 con cá. Tất cả để báo hiệu bữa tiệc Thánh Thể.
Thì, hôm nay, tiên tri Isaia ví Nước Trời như một bữa tiệc mà Chúa khoản đãi mọi dân tộc, nhất là những ai đói khát tự do, công chính. Chúng ta cũng hãy sốt sắng tham dự vào bữa tiệc thánh là Lời Chúa và Thánh Thể, hãy “hân hoan vì Chúa khoản đãi và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt”.
3. Y phục xứng kỳ đức.
Tục ngữ Pháp có câu:”La soutane ne fait pas un moine”: chiếc áo dòng không làm nên ông thầy tu. Câu tục ngữ ấy có ý nói rằng muốn trở thành một tu sĩ thực thụ thì cần phải có đời sống xứng đáng với bậc tu của mình. Người ta quí trọng tu sĩ là do đời sống thánh thiện của họ chứ không phải do cái áo của họ. Cho nên quần áo thì phải đi đôi với đức độ, nghĩa là phải có cả bề trong lẫn bề ngoài.
Cung cách một người thể hiện tinh thần của người đó. Khi đến thăm một người bạn, ta sẽ không mặc bộ đồ làm vườn mà đến. Chúng ta biết rõ rằng quần áo không thành vấn đề đối với bạn chúng ta, cũng không phải chúng ta muốn trình diễn, nhưng vì vấn đề phải tôn trọng nên chúng ta đến nhà bạn một cách gọn gàng và chỉnh tề. Chuẩn bị trước như thế là chúng ta bầy tỏ cảm tình và sự tôn trọng của mình đối với bạn.
Đối với nhà của Chúa cũng vậy, ví dụ này không quan hệ gì đến việc ăn mặc của chúng ta khi đến nhà thờ để trình diễn, nhưng cần có trang phục cho linh hồn, tấm lòng và tâm trí của chúng ta. Đó là sự khao khát, trông đợi, lòng khiêm nhường và thống hối, đức tin và sự tôn kính. Đây là bộ áo lễ nếu không mặc vào thì sẽ không dám đến gần Chúa. Điều thường xẩy ra là chúng ta hay đến nhà Chúa mà không sửa soạn chút nào. Nếu mỗi người chúng ta đều sửa soạn trước khi đến nhà thờ bằng lời cầu nguyện ngắn, suy nghĩ và tự kiểm điểm bản thân thì sự thờ phượng mới đúng là sự thờ phượng thật. Một sự thờ phượng đem lại nhiều tốt lành cho tâm hồn mỗi người, cho Hội thánh và cho thế giới.
Chúng ta đã nhận lời mời của Chúa mà vào dự tiệc Nước Trời. Đây là một vinh dự lớn lao Chúa dành cho ta. Nhưng vinh dự ấy đòi chúng ta phải vươn lên bằng một đời sống lành thánh, một đời sống kết hợp với Chúa, để có thể nói như thánh Phaolô:”Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Trách nhiệm của chúng ta là phải giữ mình không để cho vật dục hay của cải trần gian lôi kéo xuống giống như con vật, ngược lại phải vươn lên làm con cái ánh sáng để xứng đáng là công dân Nước Trời.
Truyện: Đại bàng con
Chuyện kể rằng: Có một con gà rừng đang ấp trứng, nhưng lẫn trong ổ của nó một trứng đại bàng. Đúng ngày giờ, trứng nở thành con. Đại bàng con nô đùa vui vẻ bên đàn gà rừng như anh chị em ruột.
Một ngày kia, đang bưới móc kiếm ăn cùng đàn gà rừng, đại bàng con bỗng thấy một con đại bàng lớn bay lượn trên không trung thật oai phong và đẹp mắt. Cậu liền hỏi gà mẹ:
- Mẹ ơi, sao mình không bay như chim kia trên trời?
- Chúng ta đâu phải đại bàng mà bay được!
- Thế chúng ta là ai?
- Chúng ta là gà rừng!
Bỗng một ngày, đang khi bươi chải kiếm ăn trên đống rác cậu lại thấy đại bàng mẹ bay lượn trên đầu gọi:
- Bay lên con ơi, bay lên đại bàng con của mẹ. Thế giới của con là trời cao đất rộng, chứ không phải là đống rác này! Bay lên đi con.
Cậu cố bay lên, nhưng lại rơi xuống. Trong khi các chú gà rừng cười cợt chế nhạo:
- Chúng ta là gà rừng, làm sao mà bay được.
Cậu suy nghĩ, nếu ta là gà rừng sao đại bàng kia cứ bảo ta là đại bàng con. Và khi bay lên ta thấy cũng đâu có khó khăn gì, có lẽ chưa quen thôi. Nào hãy thử lần nữa xem.
Thế là cậu đại bàng đủ lông đủ cánh bay lên, và bay lên mãi. Cậu bay theo mẹ về một chân trời mới. Lần đầu tiên trong đời, cậu được nhìn thế giới từ trên cao, lòng cậu mênh mang, hạnh phúc ngập tràn (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, năm A, tr 145-146).
Kitô hữu là người được Thiên Chúa tuyển chọn, làm con cái của Ngài. Họ là những con đại bàng, luôn ngước mắt nhìn cao, mong bay lên cùng Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương. Họ luôn sống trong tâm tình của thánh Augustinô:”Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa. Tâm hồn con luôn thao thức cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa”.
Đừng bao giờ nghĩ mình là giống gà rừng, để cúi đầu bươi chải, an phận với những hạnh phúc nhỏ nhoi tầm thường. Tuy được những con sâu bọ là miếng mồi ngon đấy, nhưng chúng cũng nằm trên đống rác, đống phân. Chúng ta hãy vươn mình lên, vươn lên mãi cho tới trời cao, nơi quê hương thật của chúng ta ở đó.
Chúng ta hãy thực hiện lời thánh Phaolô đã dạy: ”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).
9. Chúa mời chúng ta dự tiệc Nước Trời--Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
Chủ đề: Chúa mời chúng ta dự tiệc Nước Trời (Mt 22,4)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
Có nhiều niềm hạnh phúc chúng ta đang hưởng mà không ý thức, chẳng hạn hạnh phúc được làm con Chúa, hạnh phúc được ở trong Giáo Hội, hạnh phúc mỗi tuần được dự tiệc của Chúa.
Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta xin Chúa giúp chúng ta ý thức những hạnh phúc ấy; và chúng ta cũng xin Ngài dạy chúng ta biết sống thế nào để xứng đáng với tấm lòng của Chúa.
II. Gợi ý sám hối
Tuy vẫn biết hạnh phúc Nước Trời là quý báu nhất, nhưng rất nhiều khi chúng ta coi trọng những giá trị vật chất hơn.
Nhiều lần chúng ta từ chối ơn Chúa.
Dù đang ở trong Nước Chúa và làm công dân Nước Chúa, nhưng cách sống của chúng ta chưa xứng đáng.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Is 25,6-9)
Bữa tiệc mà ngôn sứ Isaia mô tả có những nét đáng chú ý sau đây:
Người thết đãi là “Chúa các đạo binh”
Khách được mời dự là tất cả các dân
Nơi dọn tiệc là “trên núi này”, tức là núi Sion.
Trong bữa tiệc đó, người dự không chỉ được thưởng thức những thức ăn ngon, mà còn được cất khỏi mọi buồn sầu, tủi hổ, tang chế.
Ðó chính là hạnh phúc Nước Trời được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người không phân biệt ai.
2. Ðáp ca (Tv 22)
Tv 22 này rất quen thuộc đối với mọi tín hữu: Thiên Chúa là một mục tử chăm sóc đoàn chiên hết sức chu đáo: lo cho chiên có cỏ xanh để ăn, nước trong để uống, bóng mát để nghỉ ngơi, và còn bảo vệ để chiên có thể “ăn tiệc” thoải mái ngay trước mặt quân thù.
3. Tin Mừng (Mt 22,1-14)
Ý nghĩa của dụ ngôn bữa tiệc: Thiên Chúa ban hạnh phúc Nước Trời trước tiên cho dân Do Thái, nhưng họ đã từ chối vì chuộng những giá trị trần gian hơn; Thiên Chúa lại ban hạnh phúc ấy cho muôn dân. Tuy nhiên, cũng như người dự tiệc cưới phải mặc áo cưới, người được mời gia nhập Nước Trời cũng phải có một nếp sống mới phù hợp với Tin Mừng.
4. Bài đọc II (Pl 4,12-14.19-20) (Chủ đề phụ)
Trong thời gian Phaolô bị cầm tù, tín hữu Philipphê đã rộng rãi giúp đỡ ông. Trong lá thư cám ơn gởi cho họ, Phaolô nói 2 ý:
Thực ra ông cũng không cần những giúp đỡ vật chất ấy, vì một mặt ông đã quen thích nghi với mọi hoàn cảnh, và mặt khác ông còn được Chúa trợ giúp, cho nên “Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi”.
Tuy nhiên việc tín hữu Philipphê trợ giúp vật chất cho ông là một điều rất quý. Phaolô xin Thiên Chúa đền đáp lại xứng đáng cho họ.
IV. Gợi ý giảng
1. Ðiều trước mắt che khuất điều ở xa
Hạnh phúc Nước Trời, hay--nói cho dễ hiểu--hạnh phúc thiên đàng là thứ hạnh phúc trọn vẹn nhất, vững bền nhất, hơn tất cả mọi thứ hạnh phúc ở trần gian. Ai cũng biết thế.
Tuy nhiên, loài người chúng ta có một cái tật, là bị những cái trước mắt che khuất nên không nhìn thấy cái ở xa, giống như tật cận thị.
Cái trước mắt mà chúng ta thấy hằng ngày là hạnh phúc mà trần gian mang lại qua việc làm ăn, buôn bán. Nói cách khác, trước mắt phải lo làm ăn để có một cuộc sống bảo đảm về vật chất; thiên đàng thì còn xa, sau này từ từ lo.
Suy nghĩ như thế có phần đúng, vì ta phải sống thực tế với hiện tại. Nhưng cũng có phần sai khi chỉ biết hiện tại mà không hề nghĩ tới tương lai.
Ðiều sai lớn nhất mà bài Tin Mừng này vạch ra là chẳng những ưu tiên lo cho hiện tại, mà còn “không đếm xỉa gì” đến bữa tiệc Nước Trời, thậm chí còn nhục mạ và hành hạ những sứ giả mà Thiên Chúa sai đến mời ta dự tiệc của Ngài.
Bài Tin Mừng hôm nay gợi cho chúng ta một số điều để suy nghĩ:
Chúa không hề trách vì chúng ta lo cho cuộc sống vật chất. Nhưng lo đến nỗi quên hẳn cuộc sống mai sau thì sẽ đáng trách. “Tiên vàn chúng con hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, mọi sự khác Ngài sẽ lo cho chúng con”.
Vì chúng ta dễ quên hạnh phúc mai sau, nên nhiều lần và nhiều cách Thiên Chúa sai người này người nọ đến nhắc nhở chúng ta. Chúng ta có khó chịu với những người ấy, xua đuổi họ, nhục mạ họ và ngược đãi họ không?
2. Tại sao họ đã chối từ?
Trong đoạn Tin Mừng này, Thánh Mát thêu ghi lại hai lý do: “người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán”. Thánh Luca thì ghi rõ hơn, tới 3 lý do: “Người thứ nhất nói: tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; người khác nói: Tôi mới tậu 5 cặp bò, tôi đi thử đây; người khác nói: Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được” (Lc 14,18-19)
3 lý do trong Luca có thể gom thành 2 loại là làm ăn (thăm đất và thử bò) và thụ hưởng (cưới vợ). Thực ra hai điều ấy không cấp bách đến nỗi phải lập tức làm ngay để đành từ chối lời mời ưu ái của nhà vua. Tuy nhiên, đó là hai nguyên do khiến nhiều người chối từ lời mời của Thiên Chúa. Ta có thể rút ra hai khuyến cáo:
Quá mê làm ăn có thể kéo ta xa Chúa.
Quá lo thụ hưởng cũng có thể kéo ta xa Chúa.
3. Những ông chủ trại, những thương gia và những kẻ ngoài đường
Chúng ta hãy lưu ý rằng hai hạng người từ chối dự tiệc cưới là những ông chủ trại và những thương gia. Họ không đến vì còn phải lo đi thăm trại và đi buôn bán. Còn những người mau mắn đến dự tiệc là những kẻ ở các ngã đường. Họ nghèo, họ đang đói cho nên được mời ăn tiệc là đến ngay.
Người no đủ không thích ăn tiệc bằng người đói khát.
Bởi thế, Ðức Giêsu đã nói rất chí lý: “Khốn cho các ngươi là những kẻ no đủ... Phúc cho chúng con là những người đói khát”.
4. Y phục tiệc cưới
Phần cuối dụ ngôn này làm người đọc thắc mắc và khó chịu: những người đang ở ngoài đường đột nhiên được mời vào dự tiệc cưới thì làm sao có sẵn áo lễ mà mặc. Thế mà ông vua lại bắt một người không có áo lễ tống giam vào ngục.
Nên nhớ đây là một dụ ngôn, nghĩa là các chi tiết ám chỉ đến một ý nghĩa nào đó. Nếu bữa tiệc cưới là hình ảnh của Nước Trời, thì chiếc áo cưới tượng trưng cho nếp sống phù hợp với Nước Trời. Tự nhiên được mời vào Nước Trời đã là một hồng phúc, cho nên để đáp lại thì phải có một nếp sống phù hợp với Nước Trời.
Chiếc áo tượng trưng cho cách sống. Chúng ta hãy suy nghĩ về chiếc áo / cách sống hiện tại của chúng ta: Nó có tốt hơn, đẹp hơn chiếc áo / cách sống của những người không được ở trong phòng tiệc không?
Chiếc áo tốt đẹp nhất của người dự tiệc Thiên Chúa chính là sống như Ðức Kitô, như lời Thánh Phaolô nói: “Anh em hãy mặc lấy con người mới” (Ep 4,24), “Hãy mặc lấy Ðức Kitô” (Gl 3,27)
5. Chuyện minh họa: Viện Cớ
Chúng ta có rất nhiều cớ để không làm điều mình phải làm, và nhiều cớ để làm điều lẽ ra không nên làm.
Ngày xưa có một anh thợ may rất khéo. Bao nhiêu áo đẹp của mọi người trong thành đều do anh may. Tuy nhiên bản thân anh thì chỉ có mỗi một chiếc áo rách. Lúc nào anh cũng mặc chiếc áo rách ấy, ngay cả trong những buổi tiệc lớn của thành phố. Có người thấy thế hỏi anh:
- Sao anh có thể may bao nhiêu chiếc áo đẹp cho mọi người mà lại không may cho anh được một chiếc áo lành lặn.
- Vì tôi phải may áo kiếm tiền, không có giờ may áo cho mình.
- Vậy anh hãy cầm lấy 20 đồng tiền này và may cho anh một chiếc áo, kể như tôi mướn anh may cho tôi vậy.
Anh thợ may cầm tiền về nhà. Ðến buổi tiệc tiếp theo, anh lại đến với chiếc áo rách cũ. Người bạn hỏi:
- Sao anh không may áo cho anh?
- Chiếc áo cho chính bản thân tôi mà giá chỉ có 20 đồng thì quá rẻ, nên tôi không may!
Người bạn chẳng nói gì nữa, bởi vì có nói gì nữa thì anh thợ may cũng sẽ tìm được một cớ khác thôi.
V. Lời nguyện cho mọi người
CT: Anh chị em thân mến
Thiên Chúa mời gọi, ban phát tình thương và ân sủng một cách vô giới hạn cho tất cả mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.
1. Chúa Giêsu đã dùng bí tích Thánh tẩy mà quy tụ chúng ta vào trong Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban Thánh Thần hiệp nhất đến trong Hội Thánh / để Người loại trừ mọi bất hòa / ghen ghét và chia rẽ giữa những người có cùng một niềm tin.
2. Chúa Giêsu là vua đem lại hòa bình / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa tiêu diệt mầm móng chiến tranh / và cho muôn dân được an cư lạc nghiệp.
3. Ðời sống thường ngày đem lại cho con người hạnh phúc thì ít / mà phiền muộn đau khổ lại nhiều / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban Thánh Thần / là nguồn an ủi kỳ diệu đến trần gian / đề Người lau sạch nước mắt cho những ai đang khổ sầu.
4. Ngày phán xét chung / Chúa chỉ căn cứ vào một tiêu chuẩn duy nhất / để thưởng công hay luận tội người kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn sống trọn vẹn niềm tin đã lãnh nhận / đặc biệt là biết chân thành yêu thương hết thảy mọi người.
CT: Lạy Chúa, xin ban ơn trợ giúp chúng con sống trọn vẹn ơn gọi kitô hữu, nhờ đó chúng con có thể mạnh dạn nói như Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Galát: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi”. Chúng con cầu xin…
VI. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha: Họp nhau đây quanh bàn tiệc của Chúa, chúng ta hãy dâng lên Ngài lời kinh Lạy Cha một cách sốt sắng.
- Trước rước lễ: Chúng ta là những kẻ hạnh phúc được mời dự bàn tiệc của Chúa. Chúng ta hãy mặc chiếc áo cưới tượng trưng cho thiện chí muốn có một cuộc sống mới xứng đáng với Chúa hơn. “Ðây Chiên Thiên Chúa...”
VII. Giải tán
Chúng ta sắp trở lại với cuộc sống thường ngày. Chớ gì những việc làm ăn, buôn bán đừng trở thành những nguyên do khiến chúng ta xa Chúa.
10. Sám hối và tin Chúa Giêsu, là y phục dự tiệc cưới nước trời--Lm. Đan Vinh
I. HỌC LỜI CHÚA
Ý CHÍNH: Dụ ngôn tiệc cưới
Đức Giêsu trình bày dụ ngôn tiệc cưới, ám chỉ lịch sử ơn cứu độ của Thiên Chúa qua hai giai đoạn chính như sau:
Đầu tiên Thiên Chúa tuyển chọn và mời gọi dân riêng Ít-ra-en gia nhập vào Nước Trời do Đấng Thiên Sai thiết lập, nhưng họ đã từ chối tình thương cứu độ của Người. Sau đó Thiên Chúa đã mời gọi tất cả các dân tộc gia nhập Nước Trời. Tuy nhiên muốn được tham dự vào bàn tiệc Nước Trời đời sau người ta tối thiểu phải mặc y phục lễ cưới, tức là phải có “lòng ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng” do Chúa Giêsu rao giảng. Ai cố tình không mặc y phục lễ cưới sẽ không được vào dự tiệc Nước Trời và còn bị phạt trong hỏa ngục muôn đời.
CHÚ THÍCH:
- C 1-3: + Nước Trời giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình: Thiên Chúa khai mở bữa tiệc thời Thiên Sai bằng việc cho Con Một Người xuống thế làm người (x. Mt 24,1-12; Kh 19,9). Tuy dụ ngôn về tiệc cưới của hoàng tử, nhưng lại đề cập nhiều đến thái độ phải có của các khách được mời đến tham dự. + Nhà vua sai đầy tớ: Đầy tớ ám chỉ các ngôn sứ (x. ls 25,6). + Đi thỉnh các quan khách đã được mời trước: Quan khách ám chỉ dân Ít-ra-en được Thiên Chúa ưu tuyển. + Nhưng họ không chịu đến: Các đầu mục đã hướng dẫn dân Ít-ra-en khinh thường lời mời của Thiên Chúa.
- C 4-6: + Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi: Điều này cho thấy lòng khoan dung của Thiên Chúa. Ngài luôn kiên nhẫn trước thái độ bất trung ngỗ nghịch của Ít-ra-en dân riêng của Ngài. + Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: Họ không đếm xỉa tới lời mời vì không tin vào các ngôn sứ do Thiên Chúa sai đến. + Kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn: Đi thăm trại hay đi buôn bán là những lý do biện minh cho hành động không đến tham dự bữa tiệc cưới, cho thấy dân ít-ra-en đã coi trọng của cải vật chất và các việc trần gian hơn lời hứa cừu độ của Thiên Chúa. + Còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết: Các đầu mục đã xúi dân bắt bớ giết hại các ngôn sứ là những gia nhân do Thiên Chúa sai đến. Điều này cho thấy tội bất trung của họ đã lên đến tột cùng và đáng bị trừng phạt.
- C 7-8: + Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ: Sự dửng dưng, từ chối và còn giết hại các ngôn sứ thời Cựu ước và các Tông đồ thời Tân ước khiến cho Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ. + Sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy: Sự cố chấp chống lại tình thương cứu độ, khiến dân Do Thái không còn xứng đáng được hưởng sự khoan dung nữa và đáng bị trừng phạt. + Và thiêu hủy thành phố của chúng: Việc thiêu hủy thành phố ám chỉ biến cố thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy bình địa vào năm 70 sau Công nguyên. Điều này cho thấy Tin mừng Mát-thêu được biên sọan vào sau năm 70, khi ấy tác giả đã được chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát của thành Giê-ru-sa-lem. + Những kẻ đã được mời lại không xứng đáng: Ơn cứu độ đã được hứa ban cho dân Ít-ra-en, nhưng họ lại không đáng được hưởng do thái độ dửng dưng và từ chối gia nhập vào Nước Trời do Đức Giêsu thiết lập.
- C 9-10: + Vậy các ngươi đi ra các ngả đường: Nhắc lại lệnh của Đức Giêsu truyền cho các môn đệ trước khi về trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Ra các ngả đường còn nói lên tính phổ quát của ơn cứu độ như lời Đức Giêsu: “Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngòai, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 8,11-12). + Gặp ai bất luận xấu tốt cũng tập hợp cả lại: Câu này cho thấy ý của Thiên Chúa là muốn cho tất cả mọi người đều được vào Nước Trời (x. Mt 9,13). + Phòng tiệc cưới đã đầy thực khách: Từ nay Hội thánh gồm đủ mọi dân tộc và mọi thành phần tốt xấu trong xã hội. Ở đây cũng nhắc lại ý nghĩa của dụ ngôn Cỏ lùng (x. Mt 13,24-30) và Chiếc lưới (x. Mt 13,47-50).
- C 11-12: + Nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc: Sự quan sát ám chỉ cuộc phán xét cuối cùng của Đức Giêsu, Đấng được Thiên Chúa tôn lên làm “Chúa” (x. Pl 2,6-11) và làm “Vua” xét xử muôn dân (x. Mt 25,31-46). Tuy “Hội thánh lữ hành” ở trần gian còn bao gồm cả người tốt lẫn kẻ xấu, nhưng “Hội thánh chiến thắng” trên trời lại chỉ gồm những người đã trải qua cuộc phán xét chung. Khi ấy chỉ những người có đức tin, thể hiện qua lối sống khiêm tốn phục vụ mới được tham dự bàn tiệc Nước Trời. + Có một người không mặc y phục lễ cưới: Trong Thánh Kinh không chỗ nào đề cập đến tục lệ chủ nhà sắm quần áo cưới cho quan khách đến dự tiệc mặc trước khi vào phòng tiệc nhưng chỉ cần họ ăn mặc lịch sự là đủ. Y phục lễ cưới ở đây ám chỉ chiếc áo trắng chiến thắng (x. Kh 7,9b), áo chính trực công minh (x. Is 61,10) và công chính (x. Mt 5,16.20), tượng trưng con người mới công chính thánh thiện (x. Ep, 4,24), giống như Hiền thê được trang điểm và được mặc áo sáng chói tinh tuyền đi đón Con Chiên (x. Kh 19,8). Tóm lại, y phục lễ cưới chính là chiếc áo trắng tinh khi chịu phép rửa tội. + Người ấy câm miệng không nói được gì: Người không mặc y phục lễ cưới đã không thể biện minh cho thái độ khinh thường chủ tiệc của mình.
- C 13-14: + Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: Đây là những hình phạt tượng trưng cho hỏa ngục, nơi dành cho những kẻ sống bất chính và thù ghét Thiên Chúa. Nơi đó họ sẽ phải khóc lóc đau khổ và nghiến răng tủi hờn. + Kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít: Nhiều ít không phải về số lượng, nhưng đúng hơn là sự non kém. Nên câu này có thể được dịch lại như sau: “Kẻ được gọi thì đông hơn, và người được chọn thì ít hơn”. Câu này lẽ ra được đặt ngay sau dụ ngôn Tiệc Cưới. Vì người được gọi thì rất nhiều “chật ních phòng tiệc”, và chỉ có người được mời trước từ chối và “một người không mặc áo cưới bị loại ra mà thôi (x. Lc 13,22-30). Việc người được gọi thì nhiều mà được chọn thì ít không phải do Thiên Chúa không mời, nhưng tại loài người đã cố tình từ chối lời mời của Thiên Chúa, hay vì không mặc áo cưới công chính tinh tuyền, không sống giới răn yêu thương của Chúa Giêsu (x. Mt 3,8 ; 5,20 ; 7,21 ; 13,48 ; 21,32).
HỎI ĐÁP:
- Hỏi 1: So sánh dụ ngôn Tiệc cưới trong hai Tin mừng Mát-thêu (22,1-14) và Lu-ca (14,16-24), ta thấy Tin mừng Lu-ca không nói đến việc ông vua phát hiện ra có một kẻ không mặc áo cưới và trừng phạt y. Vậy Tin mừng nào thuật lại đúng hơn?
ĐÁP: Ngày nay một số nhà chú giải nghĩ rằng: dụ ngôn Tiệc Cưới do Đức Giêsu giảng thực ra đã chấm dứt ngay sau khi vua cho mời những kẻ nghèo khó, tàn tật mù què vào đầy phòng tiệc, để thế chỗ cho những kẻ được mời mà không đến (x. Lc 14,16-24; Mt 22,1-10). Còn phần sau trong Tin mừng Mát-thêu (22,11-14) thực ra là một dụ ngôn khác, là dụ ngôn “Áo Cưới”, nhưng đã được đặt liền sau dụ ngôn “Tiệc Cưới”.
- Hỏi 2: Ông vua có bất công không khi phạt một người khách không mặc y phục lễ cưới chỉ vì bất ngờ được mời, nên không có thời gian chuẩn bị trước. Hơn nữa, do được mời ở ngã ba đường và bị ép vào phòng tiệc, thì lấy đâu ra áo cưới?
ĐÁP: Những ai nhận đây là hai dụ ngôn được ghép lại thành một thì sẽ không thắc mắc gì về vấn đề áo cưới, vì ai cũng có thời giờ chuẩn bị trước ở nhà. Tuy nhiên ngay cả trường hợp được mời đột xuất thì việc phạt người không mặc áo cưới cũng không phải là bất công. Vì tại sao bao nhiêu người khác cũng được mời bất ngờ như vậy mà vẫn mặc y phục lễ cưới? Hơn nữa, khi bị hạch hỏi, người không mặc áo cưới này lại làm thinh, không bào chữa gì được cho hành vi của mình. Nhưng đây cũng chỉ là một câu chuyện dụ ngôn, nhằm dạy bài học hơn là chú ý đến các chi tiết xác thực. Điều dụ ngôn muốn nói là: Người khách không mặc áo cưới là một kẻ xấu xa gian ác, cố tình không sám hối, nên hắn ta đáng bị vua trừng phạt trong hỏa ngục đời đời.
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: Nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” Người ấy câm miệng không nói được gì (Mt 22,11-12).
2. CÂU CHUYỆN: Y phục của sự hân hoan, yêu thương và phục vụ
Để trả lời cho những người muốn biết Nước Trời ở đâu, Đức Giêsu đã dạy: “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17,21). Như vậy, mỗi gia đình, cộng đoàn hay bất cứ tập thể nào cũng có thể trở thành thiên đàng hay hỏa ngục. Có người đã tưởng tượng ra cảnh thiên đàng và hỏa ngục tương tự như hai bàn tiệc sau đây:
Cả hai bàn tiệc trên thiên đàng hay dưới hỏa ngục đều có đầy thức ăn ngon, và mỗi người đều được phát một đôi đũa. Có điều các đôi đũa đều dài quá khổ, đến nỗi tuy người ăn có thể gắp được đồ ăn trên bàn, nhưng lại không sao đưa được vào miệng của mình. Trong bàn tiệc trên thiên đàng thì mọi người đồng bàn đều có lòng vị tha bác ái, thể hiện qua thái độ phục vụ người khác và làm vui lòng người khác. Họ gắp đồ ăn lẫn cho nhau, nên mọi người đều được ăn no và không khí bàn tiệc rất vui vẻ bình an và hạnh phúc. Ngược lại, tại bàn tiệc trong hỏa ngục thì mọi người đồng bàn đều có thái độ ích kỷ khi chỉ nghĩ đến mình. Vì không thể tự đưa đồ ăn vào miệng, và lại ganh tị không muốn người khác hơn mình, nên mọi người trong bàn tiệc đều bị đói, và hậm hực thù ghét lẫn nhau. Bầu khí nơi bàn tiệc lúc thì căng thẳng, lúc lại nặng nề khiến trong số các kẻ ngồi ăn: Người thì chán nản khóc lóc, kẻ lại nghiến răng giận hờn.
3. SUY NIỆM:
1) Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho loài người qua hai giai đoạn:
a- Đầu tiên: Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến với dân It-ra-en báo tin về một Đấng Thiên Sai sẽ đến thiết lập một “Triều Đại của Thiên Chúa”, và mời dân này gia nhập. Khi gần đến ngày đã định, Thiên Chúa lại sai Gio-an Tẩy Giả là vị tiền sứ của Đấng Thiên Sai đến nhắc lại lời mời gọi ấy như sau: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2). Nhưng dân Ít-ra-en vẫn tỏ thái độ thờ ơ và vua Hê-rô-đê đã giết hại Gio-an và về sau dân này còn hè nhau giết hại chính Người Con do Thiên Chúa sai đến là Đức Giêsu.
b- Tiếp đến: Trước sự cứng lòng từ chối ơn cứu độ của dân Ít-ra-en, Thiên Chúa đã mời hết mọi dân tộc tham dự tiệc cưới Nước trời như lệnh truyền của Đức Giêsu trước khi lên trời: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Sau khi nhận ơn Thánh Thần, các Tông đồ đã thi hành sứ mạng rao giảng Tin mừng khắp muôn dân. Nhờ Thánh Thần tác động mà số người gia nhập Hội thánh ngày một gia tăng.
2) Đáp lại lời mời của Thiên Chúa thế nào?
a- Phải mặc y phục lễ cưới:
Chúng ta vốn là dân ngoại, nhưng đã đáp lại lời mời của Đức Giêsu để gia nhập vào Hội thánh (x. Mc 1,15). Nhưng muốn được tham dự bàn tiệc Nước Trời đời sau, chúng ta cần mặc chiếc áo trắng tinh khi chịu phép rửa tội và sống đức tin bằng việc thực thi đức cậy và đức mến (x. Mt 7,21; Lc 11,28). Thực ra, Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn được nên con cái của Người, là để chúng ta sống xứng với ơn ấy. Cần hoán cải và canh tân mỗi ngày (x. Mt 3,2), cần sống khiêm tốn, yêu thương và phục vụ Chúa trong người chung quanh, nhất là những người bệnh tật, nghèo khổ và bị bỏ rơi (x. Lc 17,10; Mt 25,34), chu toàn sứ mạng loan báo Tin mừng (x. 1 Cr 9,16). Mỗi tối khi tự kiểm trước khi đi ngủ, chúng ta hãy tự hỏi: Hiện giờ tấm áo trắng rửa tội của tôi có còn tinh tuyền không? Hôm nay tôi đã sống giới răn mến Chúa yêu người như thế nào? Giả như đêm nay Chúa gọi tôi về trình diện, thì tôi có đủ điều kiện tham dự bàn tiệc Nước Trời là Thiên đàng hay không?
b- Y phục lễ cưới là thực hành ba nhân đức đối Thần là “Tin, Cậy, Mến”:
Thánh Phao-lô khuyên đồ đệ Ti-mô-thê: “Lời truyền dạy đó phải nhằm đưa tới đức mến, phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng, và đức tin không giả hình” (1 Tm 1, 5). Đó chính là y phục lễ cưới Nước Trời. Trong lễ nghi Rửa tội, tấm áo trắng được trao cho người tân tòng mặc vào biểu tượng sự sống mới được Chúa Giêsu mang lại nhờ cái chết trên cây thập giá của Người. Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta cởi bỏ con người cũ tội lỗi để mặc lấy con người mới theo Chúa Ki-tô. Tất cả những ai muốn được dự Tiệc Cưới của Chúa Giêsu do Chúa Cha khoản đãi, đều phải có được lối sống Tin Cậy Mến này.
c- Các tín hữu cũng cần nhìn lên những điều cao siêu trên trời:
+ Câu chuyện ngụ ngôn về một con chim đại bàng như sau:
Một con gà rừng mẹ đang ấp trứng, nhưng lẫn trong ổ trứng của nó có một trứng to của chim đại bàng. Khi đến ngày giờ, các quả trứng đều nở ra thành con. Đại bàng con nô đùa vui vẻ bên các chú gà rừng như anh chị em ruột trong gia đình gà rừng.
Một ngày kia, khi đang bới móc trong đống rác kiếm ăn giun đất chung với đàn gà rừng, đại bàng con chợt thấy một con đại bàng lớn bay lượn trên không với dáng vẻ oai phong đẹp mắt. Cậu liền hỏi gà mẹ rằng:
- Mẹ ơi, sao bọn mình lại không bay lên cao như chim đại bàng trên trời kia hả mẹ?
- Chúng ta không phải đại bàng nên không thể bay lên được con ạ!
- Thế chúng ta là ai hả mẹ? Đại bàng con hỏi tiếp.
- Chúng ta chỉ là loài gà rừng mà thôi!
Rồi vài ngày sau đó, khi đang khi bươn chải kiếm ăn trên đống rác, đại bàng con lại thấy chim đại bàng mẹ bay lượn trên cao gọi cậu:
- Hãy bay lên cao với mẹ hỡi con của ta! Thế giới của con là trời cao biển rộng, chứ đâu phải đống rác nhơ bẩn dưới đó! Mau bay lên với mẹ đi con.
Đại bàng con cố đập cánh bay lên theo lời mẹ gọi, nhưng bay được vài cái là lập tức bị rơi xuống đất giữa tiếng cười chế nhạo của anh em gà rừng. Bọn chúng bảo đại bàng con rằng:
- Chú chỉ là loài gà rừng, làm sao bay lên cao được hả chú bé?
Đại bàng con tự nhủ: Nếu ta chỉ là gà rừng thì sao mẹ đại bàng trên cao kia cứ gọi ta là đại bàng con? Đàng khác, ta thấy bay lên cao cũng đâu phải quá khó! Có lẽ tại ta chưa tập thành thạo đó thôi. Vậy bây giờ ta thử bay thêm lần nữa xem sao.
Thế là đại bàng con đủ lông đủ cánh đã bay được lên trời và cứ tiếp tục bay lên cao mãi. Cậu bay theo sau đại bàng mẹ tiến về một phương trời mới. Lần đầu tiên trong đời, đại bàng con được nhìn xuống đất từ trên cao. Cậu cản thấy lòng tràn ngập niềm vui vẻ hạnh phúc.
+ Kitô hữu là người được Thiên Chúa tuyển chọn để nên con cái của Ngài. Họ là “Giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” (1 Pr 2,9). Tuy sống trong thân phận con người trần gian, nhưng luôn ngước mắt nhìn lên trời cao, mong về cùng Thiên Chúa Cha đầy tình yêu thương. Cần sống trong tâm tình của thánh Au-gút-tinô như sau: ”Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con hướng về Chúa.Và tâm hồn con vẫn còn thao thức mãi, cho tới khi nào con được nghỉ yên trong Chúa”.
+ Chúng ta đừng nghĩ mình là loài gà rừng hèn hạ, để chỉ biết cúi đầu bươi chải đống rác hôi thối để tìm kiếm thức ăn, chỉ biết bằng lòng với những hạnh phúc tầm thường chóng qua do tiền tài danh vọng sắc dục mang lại. Tuy trước mắt đồ ăn có vẻ hợp khẩu vị đấy, nhưng chúng chỉ có giá trị nhất thời ở đời này. Khi chết là chấm dứt mọi sự. Chúng ta cần phải nhìn lên cao, cố gắng tập vươn tâm hồn lên những gì là cao thượng, phù hợp với Thiên đàng đời sau như lời thánh Phao-lô dạy: ”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).
4. THẢO LUẬN:
1) Thánh Gio-an viết: “Thiên Chúa là tình yêu”. Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16b). Vậy thiên đàng ở đâu? 2) Bạn có thể làm cho gia đình hay cộng đoàn của bạn trở thành thiên đàng được không? 3) Theo Tin Mừng Mát-thêu (Mt 25,40-45): Để tránh bị Chúa trừng phạt trong ngày tận thế, ngay từ bây giờ bạn phải làm gì?
5. NGUYỆN CẦU:
- Lạy Chúa Giêsu. Xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con. Xin cho con biết luôn quên mình để làm mọi việc vì lòng yêu mến Chúa. Xin cho con biết khiêm hạ, luôn làm việc để tôn vinh Thiên Chúa và vì phần rỗi tha nhân.
- Lạy Chúa. Ước gì con biết hãm mình và sống trong tình thương của Chúa. Ước gì con biết đón nhận tất cả những gì xảy đến cho con và trung thành bước theo Chúa đến cùng. Xin đừng để điều gì thuộc trần gian quyến rũ con lạc xa Chúa. Xin hãy thương xót con và giúp con thêm lòng tin yêu Chúa. Xin hãy giúp con biết noi gương Chúa làm và sống lời Chúa dạy, hầu sau này con đáng được hưởng kiến Thánh Nhan Chúa Cha trên trời.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria.- Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
11. Lời mời dự tiệc--John W. Martens--Văn Hào, SDB chuyển ngữ
“Nước Trời ví như một ông vua kia mở tiệc cưới cho đứa con” (Mt 22,2).
Khi nói về nước Thiên Chúa, có lẽ không một hình tượng nào thú vị và hấp dẫn cho bằng quang cảnh một bữa tiệc. Mọi người trong chúng ta đều đã từng trải nghiệm sự hoan vui với đồ ăn thức uống khi tham dự một bữa tiệc như vậy. Nhiều nơi tôi đã đi qua, đã để lại những dấu ấn khó quên với những món đặc sản tại nơi đó. Vì vậy, hình ảnh bữa tiệc mà bài Tin Mừng nói tới hôm nay mang đậm nét văn hóa nhân sinh nơi cuộc sống đời thường của chúng ta. Bữa ăn gợi nhớ những thời khắc thư giãn trong cuộc sống, hoặc đó cũng là những giờ phút đầm ấm, cả gia đình cùng quây quần sum họp bên nhau. Isaia phác vẽ một viễn cảnh tương lai, đó là lúc “Đức Chúa sẽ thiết đãi muôn dân một bữa tiệc thịnh soạn, nào thịt béo, nào rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25,7). Vị tiên tri còn khai mở trong tâm tưởng chúng ta một chân trời tươi sáng hơn: “Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần” (Is 25,7). Người ta sẽ nhớ mãi đến Vương quốc này, vì không phải chỉ có thịt và rượu, nhưng còn có một đặc nét khác quan trọng hơn, đó là Thành đô sẽ dàn trải ơn cứu độ đến với muôn dân, và tử thần sẽ bị khuất phục.
Mọi người đều phải ngóng đợi, và hướng vọng về bữa tiệc này. Còn bạn, làm sao bạn có được vé mời để đến tham dự? Rất giản đơn và dễ dàng. Bởi vì chính bạn đã được mời từ lâu rồi. Đức Giêsu kể một dụ ngôn về một ông vua tổ chức tiệc cưới cho đứa con. Ông sai gia nhân đi mời các quan khách. Những người được mời, cho dù thiệp mời đã được trọng thị gửi đi từ trước, nhưng họ đã xem nhẹ và lạnh lùng từ chối. Người đi thăm nông trại, người khác mải mê công việc làm ăn...Một số khác còn bắt các gia nhân, ngược đãi và thậm chí còn giết chết họ. Thái độ phản kháng này xem ra rất dị thường trước một lời mời trang trọng như vậy. Thế thì, ai là những con người đã chối từ bữa tiệc của Đức Vua, mà chỉ chú tâm đến những bận rộn đời thường? Còn kỳ lạ và khó hiểu hơn nữa, chúng ta thử hỏi tiếp, ai là những người đã bắt các gia nhân, giết chết họ chỉ vì họ đi mời các quan khách? Dụ ngôn của Đức Giêsu vạch dẫn những ám dụ biểu thị sự từ chối lời gọi mời của chính Thiên Chúa trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta hôm nay.
Sự việc Vương quốc bị từ chối, còn nêu ra những thái độ kỳ lạ hơn nữa. Tự bản chất, Vương quốc của Thiên Chúa luôn là một bữa tiệc, là một lễ hội, lúc nào cũng được dọn sẵn và rộng mở cho mọi người. Các giáo phụ đã nói nhiều về điều này, ví dụ Thánh Clêment thành Alexandria đã viết “Trọn vẹn cuộc sống chúng ta là một ngày đại lễ”. Thánh Chrysostomo viết tiếp “Chúng ta có những ngày lễ bất tận”. Còn Thánh Augustinô cũng mô tả “ Lễ hội luôn mãi trường cửu trong nhà Thiên Chúa” và Thánh Hiêrônimô còn nói tổng quát hơn “Cuộc sống chúng ta, là một cuộc lễ hội không bao giờ chấm dứt”... Lễ hội hoan vui của Thiên Chúa luôn tuôn đổ niềm vui xuống trên chúng ta, giữa bao lao nhọc và khổ đau của kiếp người. Nhưng trớ trêu thay, con người lại đáp trả một cách vô tâm, hờ hững, và cuối cùng còn phản kháng một cách cuồng nộ nữa.
Cho dù bị chối từ, các gia nhân vẫn đi và kiếm tìm thực khách để lấp đầy phòng tiệc, bất kể người tốt hay kẻ xấu. Nhưng câu truyện lại nêu ra một khía cạnh khác khá nhức nhối. Nhiều nhà chú giải cho rằng chi tiết này thuộc về một dụ ngôn khác, nhưng đã được gượng ép gắn kết với dụ ngôn về bữa tiệc cưới. Đó là sự kiện xảy ra sau khi các gia nhân đã đi mời, và phòng tiệc đầy kín người, cả tốt lẫn xấu, nhà vua để ý thấy có một thực khách không mang y phục đám cưới. Nhà vua nói với anh ta “Này bạn, sao bạn đến đây mà không mặc áo cưới? Vị khách này đã được mời, và đã ngồi vào bàn, trong khi biết bao người khác lại chối từ. Nhưng tiếc thay, anh ta vẫn còn thiếu một điều quan trọng. Ông vua ra lệnh cho gia nhân “Hãy trói tay chân nó lại, đưa ra chỗ tối tăm bên ngoài, nơi chỉ có khóc lóc và nghiến răng”. Đây là một hình tượng nói về hỏa ngục, theo cách diễn tả truyền thống nơi Tin mừng Matthêu.
Dụ ngôn kết thúc với lời giáo huấn của Đức Giêsu “Người được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn thì ít”. Câu kết luận này đan nối câu chuyện tiệc cưới với sự kiện có một vị khách không mặc áo cưới. Khi chúng ta nhìn lại trình thuật của dụ ngôn, rõ ràng hạn từ “nhiều người” mà Chúa Giêsu nói tới, biểu trưng cho “tất cả mọi người”, cho tính phổ quát của ơn cứu độ. Tất cả mọi người, không loại trừ ai, đều được gọi mời vào bàn tiệc, người tốt cũng như kẻ xấu. Nhưng chỉ “ít người được chọn” mà thôi. Đó là những ai đã nhận được lời mời và thực lòng chấp nhận. Họ là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hoàn toàn do ân huệ trao ban cách nhưng không, chứ không phải do công lao của họ. Nhưng để được chọn, chỉ lời mời của Thiên Chúa mà thôi, thì không đủ. Còn phải có sự tự nguyện đáp trả từ phía con người, tức là những kẻ được mời. Hơn nữa, một khi chúng ta đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, chúng ta phải chuẩn bị chu đáo để đến dự tiệc. Y phục phải gọn gàng, khăn áo phải chỉnh tề, tức là chúng ta phải sẵn sàng mọi thứ để có thể ngồi vào bàn tiệc hầu thưởng lãm niềm vui. Y phục tiệc cưới là chính thái độ rộng mở của tâm hồn, sẵn sàng đáp trả lời gọi mời của Thiên Chúa và cộng tác với Ngài, Đấng đem đến cho ta ơn cứu độ. Điểm nhấn của Đức Giêsu nơi dụ ngôn, thể hiện trong câu nói cuối cùng. Không phải là Ngài có ý nói về số người được cứu sẽ ít ỏi. Ngài muốn nêu lên niềm khắc khoải, vì những người được mời thì nhiều, nhưng tiếc thay con số đáp trả lời mời gọi đó, và chuẩn bị sẵn sàng cho Vương quốc lại quá ít. Tất cả mọi người chúng ta được mời, nhưng chúng ta có được chọn hay không, tùy thuộc vào thái độ và sự tự do nơi chính chúng ta. Dầu sao, bạn hãy luôn sẵn sàng, không phải sẵn sàng ngồi vào bàn tiệc hôm nay, hay ngày mai, hay của một thời điểm nào đó, nhưng là bữa tiệc Nước Trời, bữa tiệc của ơn cứu độ, bữa tiệc lúc nào cũng được dọn sẵn và rộng mở để đem lại cho ta niềm vui vĩnh cửu tròn đầy.
12. Tiệc cưới Nước Trời--“Như Thầy Đã Yêu”--Thiên Phúc
Chuyện kể rằng: có một con gà rừng đang ấp trứng, nhưng lẫn trong ổ của nó một trứng đại bang. Đúng ngày giờ, trứng nở thành con. Đại bàng con nô đùa vui vẻ bên đàn gà rừng như anh chị em ruột.
Một ngày kia, đang bươi móc kiếm ăn cùng đàn gà rừng, đại bang con bỗng thấy một con chim đại bang lớn bay lượn trên không thật oai phong và đẹp mắt. Cậu liền hỏi mẹ gà:
- Mẹ ơi! Sao mình không bay như chim kia trên trời?
- Chúng ta đâu phải đại bàng mà bay được!
- Thế chúng ta là ai?
- Chúng ta là gà rừng!
Bỗng một ngày, đang khi bươi chải kiếm ăn trên đống rác cậu lại thấy đại bang mẹ bay lượn trên đầu gọi:
- Bay lên con ơi, bay lên đại bang con của mẹ. Thế giới của con là trời cao đất rộng, chứ không phải là đống rác này! Bay lên đi con.
Cậu cố bay lên, nhưng lại rơi xuống. Trong khi các chú gà rừng cười cợt chế nhạo:
- Chúng ta là gà rừng, làm sao mà bay được.
Cậu suy nghĩ, nếu ta là gà rừng sao đại bang kia cứ bảo ta là đại bang con. Và khi bay lên ta thấy cũng đâu có gì khó khăn, có lẽ chưa quen thôi. Nào hãy thứ lần nữa xem.
Thế là cậu đại bang đủ lông đủ cánh bay lên, và bay lên mãi. Cậu bay theo mẹ về một chân trời mới. Lần đầu tiên trong đời, cậu được nhìn thế giới từ trên cao, lòng cậu mênh mang, hạnh phúc ngập tràn.
***
Như đại bàng mẹ tha thiết mời gọi đại bàng con bay lên bầu trời thênh thang lộng gió, Thiên Chúa cũng gọi mời các tín hữu Kitô, hãy tiến lên dự tiệc cưới Nước Trời.
Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu ví: “Nước Trời cũng giống như chuyệm một vua kia mở tiệc cưới cho con mình” (Mt 22,20). Ông cho mời các quan khách, nhưng họ đều kếm lý do để từ chối; thậm chí, còn sỉ nhục các đầy tớ của vua và giết đi. Cuối cùng vua sai đầy tớ đi mời tất cả mọi người bắt kể tốt xấu vào dự tiệc của ông. Rủi thay, có một thực khách không mặc y phục lễ cưới. Ông liền ra lệnh cho gia nhân: “Trói chân tay nó lại quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó ngươì ta sẽ phải khóc lóc nghiến rằng. Vì kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít” (Mt 22,14).
Mỗi một kitô hữu đều có một bộ y phục lễ cưới, đó là tấm áo trắng ngày chịu phép Rửa tội.
Tấm áo trắng ấy là tâm hồn thanh khiết của những người con Chúa đã được tẩy trắng trong máu Con Chiên.
Tấm áo trắng ấy được dệt bằng sợi tơ Lời Chúa mà người tín hữu phải nâng niu, gìn giữ suốt cuộc đời.
Tấm áo trắng ấy luôn được mặc vào khi người tín hữu đi dự tiệc Thánh Thể.
Và nhất là, tấm áo trắng ấy phải tinh tuyền cho đến ngày họ bước vào dự tiệc cưới trong Nước Trời.
Kitô hữu là người đã được thiên Chúa tuyển chọn., làm con cái của Người. Họ là những con đại bang, luôn ngước mắt nhìn cao, mong bay lên cùng Thiên Chúa là cha đầy yêu thương. Họ luôn sống tâm tình của thánh Au-tinh: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa. Tâm hồn con luôn thao thức cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa”.
Đừng bao giờ nghĩ mình là giống gà rừng, để cúi đầu bươi chải, an phận với những hạnh phúc nhỏ nhoi tầm thường. Tuy được những con sâu bọ là miếng mồi ngon đấy, nhưng chúng cũng nằm trên đống rác, đống phân.
Đừng bao giờ quên rằng, những thành quả trong đời sống kinh tế, và những ân sủng trong đời sống đức tin, chỉ là phương tiện giúp ta đạt đến cứu cánh của cuộc đời, là được vào dự tiệc Nước Trời. Đức Giêsu nói: “Vì nếu người ta được cả thế giớ imà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26).
Người do thái bị loại ra khỏi tiệc cưới, cho dù họ là quan khách được mời trước, chỉ vì họ đã không đón nhận Đức Kitô của Thiên Chúa. Mặc lấy “tấm áo trắng Rửa tội” là “Mặc lấy đức Kitô”, là tin tưởng vào Người và ơn cứu độ do Người mang đến.
Người Kitô hữu cũng có thể không vào được Nước Trời, nếu họ để mất “tấm áo trắng Rửa tội”. Chính là việc họ từ chối “mặc lấy Đức Kitô”, từ chối mặc y phục lễ cưới mà vua đã qui định. Đức giêsu nói với họ rằng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Rốt cuộc, “chỉ ai thi hành ý muốn của Cha” mới đúng là thực khách của bàn tiệc Nước Trời. Còn tất cả những ai mang danh hiệu Kitô, nhưng sống hòan toàn ngược lại với Tin Mừng, đều phải bị loại ra “chỗ tối tăm bên ngoài”, “nơi khóc lóc nghiến răng”.
***
Lạy Chúa,
Xin giải thoát chúng con khỏi những mê hoặc của khoái lạc, giàu sang, danh vọng. Con đại bang dù có bị cột vào một sợi dây rất nhỏ ấy cũng không thể bay lên cao.
Xin cho chúng con luôn biết lắng nghe tiếng Chúa, và mau mắn đáp lại tiếng gọi yêu thương của ngài. Amen.
13. Dụ ngôn tiệc cưới--‘Sống Tin Mừng’--R. Veritas
Được một ông vua đích thân mời đến dự tiệc cưới của hoàng tử, nhưng các thần dân không những khước từ lời mời mà còn nhục mạ giết các sứ giả, đây quả là tột cùng của sự khiếm nhã. Qua dụ ngôn, chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu nhắm vào dân Do Thái. Câu truyện gợi lên một sự đau thương của cả một dân tộc mà Thiên Chúa đã chọn họ làm dân riêng để thực hiện công cuộc cứu rỗi, nhưng họ đã khước từ ơn cứu rỗi ấy. Nhưng có lẽ trọng tâm của bài Tin Mừng được Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay không hẳn là mời dự tiệc cưới cho bằng chiếc áo cưới.
Hai câu truyện xem ra bất thường, được Vua mời đến dự tiệc cưới, thần dân lại khước từ. Đây quả là một hành động nhục mạ đối với nhà Vua. Nhưng thách thức không kém là khi vào phòng cưới mà không chịu mặc y phục lễ cưới do nhà Vua qui định, thái độ này khiêu khích đến nhà Vua phải truyền lệnh cho gia nhân trói tay chân người đó lại và ném ra ngoài.
Hình ảnh người thực khách vào dự tiệc cưới mà không chịu mặc y phục lễ cưới của nhà Vua qui định, gợi lại cho chúng ta lời khẳng định của Chúa Giêsu: "Không phải những ai nói "Lạy Chúa, Lạy Chúa" mà được vào Nước Trời đâu, mà chỉ có những ai thực thi ý Chúa muốn, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21).
Anh chị em thân mến,
Mang danh hiệu Kitô nhưng sống hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng, đây vốn là điều thường xảy ra trong cuộc sống của mỗi người chúng ta cũng như trong lịch sử của Giáo Hội. Trong Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II kêu gọi con cái Giáo Hội sám hối và thanh luyện ký ức lịch sử. Trong suốt 2,000 năm lịch sử của Giáo Hội, con cái Giáo Hội không biết bao nhiêu lần hành động hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng. Những cuộc thập tự viễn chinh để sát hại người Hồi Giáo, các tòa điều tra thời Trung Cổ để kết án, ngay cả thiêu sống những người lạc giáo, các cuộc chém giết giữa các tín hữu Công Giáo và Tin Lành.
Đó là những vết nhơ trong lịch sử của Giáo Hội, nhưng gần đây là chủ nghĩa bài trừ Do Thái thời đệ nhị thế chiến, trong cuộc sát tế 6 triệu người Do Thái, dĩ nhiên do Đức Quốc Xã chủ xướng, nhưng nó lại diễn ra ngay trong lục địa tự xưng là Kitô giáo. Không ai tự mình có thể trở thành độc tài và đồ tể. Hitler chắc chắn không có đủ ba đầu sáu tay mà hiện diện khắp cả Âu Châu để truy lùng và sát hại người Do Thái. Đức Quốc Xã không chỉ là một mình Hitler tích cực hay tiêu cực, do xác tín hay do hèn nhát, do ác ý hay vì dửng dưng, biết bao người tín hữu trên khắp lục địa Âu Châu đã nhúng tay vào tội ác của Đức Quốc Xã, tự xưng là người tín hữu Kitô nhưng hành động hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng.
Đây là cách cư xử mà Chúa Giêsu muốn ám chỉ qua người thực khách không chịu mặc y phục lễ cưới do nhà Vua qui định, một cách cư xử thiếu nhất quáng như thế vẫn xảy ra trong Giáo Hội ngày nay. Tại những nước vẫn tự xưng là Kitô giáo, đa số là những người tín hữu hữu danh vô thực, phép Rửa Tội chỉ còn là một nghi thức xã hội, ai sinh ra cũng phải đem đến nhà thờ để được rửa tội, nhưng suốt một đời nhiều người chỉ đến nhà thờ để được rửa tội, để được cưới hỏi và cuối cùng để gọi là được chết trong Giáo Hội.
Biết bao nhiêu đảng phái tự xưng là Kitô giáo nhưng đường hướng hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng. Không ngược lại với Tin Mừng là gì khi những người mang danh hiệu Kitô lại cổ võ cho ly dị, phá thai, sinh hoạt đồng tính luyến ái v.v... Còn những nước trong đó Kitô giáo là thiểu số thì người ta thường tự hào về việc giữ đạo của các tín hữu Kitô, nhà thờ lúc nào cũng chật ních người, các cuộc biểu dương và rước sách lúc nào cũng đông người tham dự. Thế nhưng, chúng ta nghĩ gì về các tệ nạn xã hội đầy dẫy trong các giáo xứ, những người ngoài Công Giáo thấy gì về các tín hữu đến nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, tối sớm đọc kinh làu làu, tích cực trong các buổi rước sách, nhưng sống ích kỷ, lường gạt, mánh mung như mọi người. Một cách sống như thế quả thực làm ố danh sự đạo. Không thể mang danh hiệu Kitô mà hoàn toàn xa lạ với Tin Mừng Kitô, không thể là người Công Giáo mà chủ trương sống ngược lại với giáo huấn của Giáo Hội, bỉ ổi hơn cả là khi người ta dùng danh hiệu Công Giáo để phục vụ cho một chế độ chủ trương bách hại Giáo Hội.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho chúng ta về những lời cam kết khi chịu Phép Rửa Tội, một trong những ý tưởng đầy ý nghĩa của Bí Tích này là chiếc áo trắng mà Giáo Hội phủ lên người chúng ta. Chiếc áo trắng ấy là căn cước Kitô của chúng ta, chúng ta không chỉ mang nó mỗi năm một lần, mỗi tuần một lần hay thậm chí chờ cho đến khi ta nhắm mắt lìa đời. Chiếc áo trắng ấy là từng hơi thở của chúng ta, chiếc áo trắng ấy là Tin Mừng Chúa Kitô mà chúng ta phải sống từng giây phút trong cuộc sống. Có sống như thế chúng ta mới thật sự cảm nhận được niềm vui khi tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể mà Chúa dọn ra cho chúng ta mỗi ngày, nhất là ngày Chúa Nhật. Có sống như thế những người xung quanh mới nhìn vào chúng ta mà ngợi khen Cha chúng ta ở trên trời. Amen.
14. Mời hết vào tiệc cưới--Lm. Trầm Phúc
“Nước Trời giống như…”
Chúng ta đã được nghe nói đến Nước Trời qua nhiều dụ ngôn. Hôm nay, chúng ta hãy suy nghĩ đến một hình ảnh khác của Nước Trời qua dụ ngôn nhà vua mở tiệc cưới cho con mình.
Dụ ngôn này có nhiều điểm tương tự với dụ ngôn mà chúng ta đã nói đến trước đây: dụ ngôn những tá điền sát nhân. Tuy mỗi dụ ngôn đều nhằm một mục đích riêng nhưng cả hai đều nói đến sự từ chối của nhóm Pha-ri-siêu đối với hồng ân cứu độ của Thiên Chúa và thái độ ngoan cố, cực đoan của họ về việc giết các đầy tớ của ông chủ và của nhà vua.
Chúa Giêsu thường dùng hình ảnh tiệc cưới để nêu lên hình ảnh Nước Trời là một bữa tiệc vui. Đó là niềm vui ơn cứu độ.
Dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử này là một tóm lược lịch sử ơn cứu độ. Ơn này được xem như một bữa tiệc cưới; không phải là một tiệc cưới bình thường nhưng là tiệc cưới do nhà vua thết đãi.
Những người được vua mời phải xem như một vinh dự được vua chiếu cố. Đức Vua, chính là Thiên Chúa. Ngài đã tuyển chọn dân Do Thái làm dân riêng của Ngài, nhưng họ không nhận biết hồng ân Chúa ban cho họ, nên họ đã nhiều lần chối từ và phản bội Thiên Chúa. Mặc dù vậy, Chúa vẫn tiếp tục mời gọi họ. Ngài sai các tiên tri đến thúc giục, cảnh báo, và kêu gọi họ trở về với Chúa, nhưng họ càng trở nên ương nghạnh hơn, thậm chí họ còn dám giết chết các tiên tri. Sau cùng, Chúa đã bỏ dân Ngài và kêu gọi các dân tộc khác vào bàn tiệc yêu thương của Ngài.
Dân Do thái đã từ chối Chúa bằng cách không đến dự tiệc cưới. Còn chúng ta, là những người đến sau, là dân mới nhưng được Chúa mời gọi vào dự tiệc của Vua.
Thánh Mat-thêu viết quyển Tin Mừng này cho người Do Thái. Ngài vạch rõ sự cứng lòng của họ. Ngài muốn cho họ thấy rằng, chương trình của Chúa vẫn tiếp tục dù họ từ chối. Chúa kêu gọi tất cả các dân tộc vào dự tiệc của Chúa.
Chúa đã nhẫn nại kêu gọi người Do Thái trở về, nhưng họ càng tỏ ra ngoan cố hơn, đến nỗi giết người Con Một yêu dấu là Chúa Giêsu.
Chúng ta thấy gì? Chối từ ơn Chúa và tình thương của Ngài là một tai họa lớn cho con người.
Những thiên tai, bão lụt, động đất… là những gì đáng sợ; nhưng cái đáng sợ nhất là sống không có Thiên Chúa. Mà sống không có Thiên Chúa, nghĩa là không có tình yêu. Không có tình yêu là khốn nạn, là hỏa ngục. Thiên Chúa không cần sai đạo binh nào đến tiêu diệt những người từ chối lời mời gọi yêu thương của Ngài. Chính con người tiêu diệt lẫn nhau bằng bạo lực, chiến tranh và bằng mọi thứ… mà chúng ta đang chứng kiến hôm nay.
Chúng ta đang sống vào một thời điểm quyết định tương lai của con người. Nhân loại đang đi về đâu? Đó là câu hỏi được đặt ra cho chúng ta hôm nay.
Nếu con người chỉ lo cho bản thân và quyền lợi của mình mà bất cần Thiên Chúa, bất cần người khác, thì sớm hay muộn, chúng ta sẽ hủy diệt lẫn nhau. Hình ảnh của thế chiến thứ ba đang chập chờn trước mắt chúng ta… Thế giới chúng ta đang lâm nguy vì ô nhiễm… Ai có thể cứu thế giới? Những cuộc hội họp quốc tế có đem lại kết quả gì không?
Giêrusalem đã chối từ và Chúa Giêsu phải rơi lệ: “Giêrusalem, Giêrusalem, biết bao lần Ta đã muốn ấp ủ ngươi như gà mẹ ấp ủ con dưới cánh, nhưng ngươi đã từ chối…”
Và hậu quả là “Không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào.”
Chúng ta có hơn dân Do Thái xưa kia không? Chúng ta có chăm chú nghe lời mời gọi của Chúa không? Hay chúng ta vẫn chối từ, vẫn cứng lòng?
Chúng ta đã đáp lại tiếng mời gọi của Chúa như thế nào?
Ai trong chúng ta cũng biết rằng: “Chúa đã yêu tôi và đã liều mạng sống vì tôi.” Hằng ngày Chúa vẫn mời gọi chúng ta vào bàn tiệc yêu thương của Chúa. Ngài đến với chúng ta qua tấm bánh, nuôi dưỡng chúng ta bằng Thịt Máu Ngài, chúng ta đáp lại như thế nào? Chúng ta đòi hỏi Chúa phải làm gì nữa để chúng ta yêu Ngài?
Nhiều người vẫn không thèm đến dự tiệc của Vua: “người thì đi thăm trại, người thì đi buôn…” Bàn tiệc đã sẵn, nhưng khách mời không đến dự. Họ khinh thị nhà vua, họ còn làm nhục và giết cả những thuộc hạ của vua sai đến mời họ. Họ khiêu khích đến mức độ như thế, hậu quả sẽ như thế nào? Vua sai quân triệt hạ thành phố của họ, và sau cùng, vua sai gia nhân mời tất cả những người ngoài đường phố vào bàn tiệc của vua. Những khách được mời đã từ chối, những người khác được nhờ.
Chúng ta nghĩ thế nào khi chúng ta mở tiệc mời những người thân, những người hàng xóm đến dự, nhưng mọi người đều từ chối, họ đưa ra mọi lý do để không đến? Chúng ta sẽ thất vọng như thế nào?
Nhưng Thiên Chúa vẫn không thất vọng, vì Ngài mãi mãi yêu thương, và Ngài vẫn tiếp tục mời gọi. Bàn tiệc của Ngài luôn sẵn sàng, nhưng chúng ta không đến vì quá bận. Chân trời của chúng ta hẹp hòi, chúng ta ham thích bữa tiệc thế gian hơn bữa tiệc Vua Trời, quyền lợi vật chất của chúng ta quan trọng hơn hồng ân của Chúa. Chúng ta lầm tưởng rằng, thế gian sẽ đem lại cho chúng ta hạnh phúc, mà quên rằng, chỉ một mình Chúa mới là hạnh phúc độc nhất mà thôi.
Chúng ta là khách mời của Chúa. Đây chính là vinh dự lớn lao, nhưng có mấy người hiểu được điều đó? Nhiều người nghĩ rằng Chúa đòi buộc họ quá đáng. Theo Chúa, dự vào bàn tiệc của Chúa không có lợi, vì Chúa không cho họ tiền bạc, danh vọng, và tiện nghi.
Chúng ta hãy nghĩ đến những chối từ của chúng ta. Bao nhiêu lần chúng ta đã phản bội? Bao nhiêu lần chúng ta vì ham mê tiền bạc, của cải đã bỏ quên việc thờ phượng Chúa?
Chúng ta có tốt hơn mấy ông Pha-ri-sêu mà Chúa đã cảnh báo không?
Làm sao chúng ta vào bàn tiệc yêu thương của Chúa với chiếc áo nhơ nhớp, đầy hận thù, tham lam và tranh chấp?
Bàn tiệc của Chúa là một tiệc cưới của hoàng tử. Hoàng tử là Con Chúa Cha hằng hữu đã đến trần gian, cưới một người phàm là nhân loại.
Tất cả chúng ta là cô dâu, một người hèn mạt và xấu xa, nhưng được Thiên Chúa yêu thương trọn vẹn… Hoàng tử thần thiên kia đã yêu thương người vợ nhân loại này đến nỗi quên hết tất cả quyền uy sang trọng của mình, yêu đến nỗi chết cho người mình yêu.
Ai có thể dám chối từ tình yêu của một Hoàng Tử như thế? Và nếu chối từ… thì chỉ còn ngục tối tăm, ở đó họ sẽ khóc lóc nghiến răng…
Hãy mau vào tiệc cưới! Vì tất cả mọi người đều được mời…
Vua Trời không bỏ sót một ai.
15. Mời hết vào tiệc cưới--Lm. Trầm Phúc
Nếu chúng ta được vua mời dự tiệc cưới, chúng ta sẽ từ chối không? Hay chúng ta sẽ lấy làm vinh dự được vua chiếu cố? Nhưng trong dụ ngôn, những người được vua mời lại từ chối, lấy những lý do này khác để xin kiếu.
Dụ ngôn này, cũng như nhiều dụ ngôn khác mang màu sắc tranh luận. Chúa Giêsu nhắm thẳng vào nhóm Pharisêu và cả dân Do Thái. Chúng ta biết rằng mối căng thẳng giữa Chúa Giêsu và nhóm Pharisêu càng ngày càng tăng và Chúa Giêsu cũng không ngại nói lên cho họ biết những sai lầm của họ. Ngài dùng nhiều dụ ngôn để giúp họ suy nghĩ, nhưng hình như lòng dạ của họ, vì quá kiêu căng và tự mãn, vẫn không thể nhìn thấy; và ngược lại, thay vì hồi tâm suy nghĩ, họ lại tìm cách tiêu diệt Chúa như một đối thủ hiểm nghèo, một cái gai trong mắt họ.
Bàn tiệc của vua chính là bàn tiệc cứu độ của Chúa. Chúa chọn dân Do Thái để mạc khải ơn cứu độ của Ngài, dân này từ xa xưa đã là một dân cứng cổ, luôn làm theo sở thích của mình, chạy theo các thần ngoại và bỏ Chúa. Chúa đã nói qua miệng tiên tri Isaia: “Suốt ngày, Ta dang tay kêu gọi một dân không vâng lời và ngỗ nghịch”. Nhưng Chúa vẫn kiên nhẫn không thôi kêu gọi họ trở về. Vua sai các đầy tớ đến mời khách nhưng họ chẳng những không đến mà lại bắt các đầy tớ của vua giết đi. Đó là một xúc phạm không thể tha thứ. Vua sai quân tiêu diệt thành phố của họ. Chúa Giêsu nhắc đến lịch sử dân Do Thái, một dân cứng cổ. Chúa nhắc lại việc xưa kia, cha ông của họ giết các tiên tri Chúa sai đến giúp họ tuân giữ Giao Ước. Tiên tri Êlia đã nói: “Lạy Chúa, các ngôn sứ của Ngài chúng đã giết chết… Còn sót lại một mình con, thế mà chúng cũng đang tìm hại mạng sống con”. Chúa cũng tiên báo việc Giêrusalem sẽ bị tàn phá vì dân Chúa đã không đón nhận tin mừng cứu độ Chúa mang đến. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Rôma đã nói lên đau khổ của ngài, vì thấy dân Do Thái từ chối tình yêu của Chúa: “Có Đức Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi rằng lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi” vì sao? Vì Chúa đã thương họ nhưng họ không đáp lại tình thương đó, Ngài phải nói lên rằng: “giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng”.
Tiệc đã sẵn sàng, nhưng những khách mời không đến dự. Vua sai gia nhân đi ra khắp các ngã đường mời hết mọi người, không phân biệt giàu nghèo. Chúa mở rộng cửa phòng tiệc cho mọi người mọi thời, không giới hạn. Mọi người trở thành khách mời của Chúa. Nhà tiệc đầy người. Phải chăng đây là hình ảnh của Giáo hội được quy tụ vào bàn tiệc cứu độ? Trong đó gồm đủ mọi hạng người. Chúng ta không thể tưởng tượng niềm vui của những khách mời bất ngờ này!
Mọi người vui mừng được vào bàn tiệc sang trọng của vua. Và vua đến để thăm các thực khách. Bàn tiệc đang vui, vua nhìn thấy một người dự tiệc mà không mặc phục lễ cưới. Vua hỏi: “Sao ngươi dự tiệc mà không mặc y phục lễ cưới?” Người ấy im lặng. Vua truyền: “Hãy trói chân tay nó lại quăng vào chỗ tối tăm bên ngoài…” Chúng ta ngạc nhiên chăng? Mời người ta từ ngoài đường vào mà lại đòi phải mặc y phục lễ cưới là thế nào? Có nhiều cách giải thích nhưng chúng ta không cần phải đi vào chi tiết. Đây chỉ là một dụ ngôn, tức là những hình ảnh ghép lại từ nhiều câu chuyện khác nhau để nêu lên một bài học. Bài học ở đây là không mặc lễ phục như qui định. Không mặc lễ phục là gì? Phải chăng là không đủ điều kiện. Điều kiện gì? Là không hoán cải, không khiêm tốn. Vào tiệc cưới của vua mà mang theo hận thù ghen ghét thì làm sao xứng đáng?
Đối với các ông nhóm Pharisêu và những người Do Thái, nếu họ hiểu, họ sẽ nghiến răng tức tối. Nhưng đối với chúng ta, những người đã được mời gọi vào bàn tiệc Nước Trời, chúng ta có từ chối lời mời của vua không? Chúng ta không đến nỗi bắt gia nhân của vua làm nhục và giết chết, nhưng chúng ta khinh thường những gì Giáo hội dạy, chúng ta chỉ làm theo sở thích của chúng ta, chúng ta dùng những ơn lành của Chúa để phạm tội. Chúng ta đã làm gì với trí khôn và những năng khiếu Chúa ban? Chúng ta sử dụng tiền bạc của cải như thế nào? Để yêu thương hay chỉ để xài phí một cách vô lý, để chà đạp anh em chúng ta, để thỏa mãn những dục vọng đê hèn, hay để phô trương? Làm sao chúng ta vào được Nước Trời là Nước Tình Yêu với những điều kiện như thế?
Dụ ngôn hôm này là một cảnh báo rất gắt gao cho mỗi người chúng ta. Giữ đạo không phải chỉ là nói “lạy Chúa, lạy Chúa”, mà làm theo ý Chúa. N ước Trời không dành cho những hạng người chỉ biết sống cho mình mà cho những người biết dùng mọi hồng ân để tạo hạnh phúc cho anh em, xả thân phục vụ anh em, những người biết yêu thương.
Vua trên trời đã yêu trần gian đến nỗi đi tìm một người yêu cho con mình nơi trần gian này. Tiệc cưới này, chàng rể chính là Chúa Giêsu, Con Một của Cha trên trời, và cô dâu là chính chúng ta. Tình yêu đã khiến cho chàng phải rời bỏ mọi vinh quang đi tìm người yêu tận trần gian này, chết cho người mình yêu. Nhưng người yêu không xứng đáng. Chúng ta không tha thiết gì với người đã yêu chúng ta và đã liều mạng cho chúngta. Chúng ta chạy theo tiền bạc, của cải, những gì làm thỏa mãn xác thịt hơn là hạnh phúc Chúa dành cho chúng ta. Thánh Phanxicô Assisi đã đau lòng nhìn thấy sự hờ hững của con người và ngài đã chạy khắp thành phố vừa khóc vừa la lên: “Tình yêu không được yêu thương, Tình Yêu không được yêu thương!”. Chúa Giêsu đã làm hết mọi cách để tỏ tình với chúng ta, nhưng hình như chúng ta vẫn không để ý gì đến Ngài, không thấy tình yêu của Ngài. Chúng ta dửng dưng khi nhìn cây thập giá là dấu hiệu mạnh mẽ nhất của tình yêu. Chúng ta không thấy người đã dám chết cho chúng ta. Lắm lúc, chính chúng ta cầm giáo đâm vào trái tim của Ngài.
Nước Trời là Nước Tình Yêu. Nước đó đang ở đây, trong thế giới chúng ta đang sống. Nước Trời không phải là mộng mơ của một số người khùng điên mà là hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho con người. Tiệc cưới chính là cuộc sống yêu thương mà chúng ta được mời tham dự. Phải mang áo tiệc cưới như vua đòi buộc. Lễ phục tiệc cưới chính là chiếc áo choàng tình yêu cần mặc để tham dự bữa tiệc của vua. Yêu thương nhau chúng ta mới vui mừng dự vào bàn tiệc cưới, vì đó cũng là tiệc cưới của chúng ta. Con Thiên Chúa đã đến cưới cô gái nhân loại này, thì đó là một hạnh phúc lớn. Hãy vui mừng vì chúng ta được yêu đến tuyệt vời.
Và bàn tiệc cưới hằng ngày vẫn mời gọi đó là bàn tiệc Thánh Thể. Nơi đây chúng ta được mời gọi ăn lấy người yêu thần linh của chúng ta và sống với Ngài liên lỉ cho đến ngày chúng ta dùng tiệc Con Chiên trên thiên quốc. Nơi đó chúng ta sẽ nếm được hạnh phúc tràn đầy mà hôm nay chúng ta đang khao khát và đang chuẩn bị tham dự.
16. Cần một tấm lòng--Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
Một trong những cung cách giảng dạy của các danh sư là dùng các câu chuyện kể. Khi sinh thời, Chúa Giêsu cũng đã từng làm người kể chuyện. Cách kể chuyện của Chúa hẳn rất có duyên khiến cho đám đông thính giả say sưa nuốt từng lời, từng câu nói. Chúa Nhật 28 TN A này, Mẹ Hội Thánh cho chúng ta nghe lại câu chuyện Chúa Giêsu kể năm nào: "Nước Trời giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho hoàng tử. Đến hẹn, vua sai gia nhân đi mời quan khách. Ngày xưa, đi dự tiệc cưới của hoàng cung có phải mang theo quà cáp hay phong bì chăng? Ngày nay rất nhiều người cứ đến mùa cưới là như trong tư thế sẵn sàng đi trả nợ đời. Cứ mỗi tấm thiệp mời ăn cưới là một tờ giấy báo nợ không bằng. Tìm được cớ hợp lý để thoái thác tham dự một tiệc cưới kể như lập một chiến công, dù không trọn vẹn, vì cũng phải nhờ người gửi quà biếu, nhưng dẩu sao cũng tiết kiệm được một buổi công làm. Tuy nhiên hầu hết đây là những trường hợp "được hay bị mời", kiểu phải đáp lễ, ít có liên hệ họ hàng hay thân thuộc.
Trở lại với câu chuyện dụ ngôn Chúa kể. Được vua mời dự tiệc cưới hoàng tử quả là một vinh dự to lớn mà nhiều người thời phong kiến hằng ước ao. Không chỉ vì mình được nhà vua sủng ái mà còn có nhiều vận hội lớn, mỗi khi được dịp vào hoàng cung, được dịp gặp gỡ bao vị quyền chức cao trọng. Hơn nữa, ngôn sứ Isaia đã minh nhiên nói rõ sự hào phóng của đức vua: Thịt thì béo, rượu thì ngon mà khỏi phải trả đồng nào (x. Is 25,6; 55,1). Thế mà những người được mời lại nỡ tâm từ chối với những lý do không chút tương xứng: đi thăm nông trại, đi buôn bán. Có kẻ lại bắt đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết! Không thể hình dung và cũng chẳng thể hiểu được.
Chuyện hình như không thể xảy ra trong đời thường thì lại rất có thể có trong đời sống đức tin, và thực sự đã hiển nhiên với lịch sử đoàn dân được tuyển chọn ngày xưa. Israel, họ được Thiên Chúa ưu ái mời gọi đến hưởng nhận bao ân phúc của Người. Chỉ là một dân nhỏ bé giữa các dân, họ chẳng có gì xứng đáng. Tất thảy chỉ vì tình Chúa bao la. Chúa sủng ái họ cách đặc biệt hơn các dân. Thế mà khi sai các đầy tớ là các sứ ngôn đến mời gọi thì họ lại chối từ và còn nhẫn tâm hãm hại các ngài. Chính sự vô tình và sự nhẫn tâm của họ đã kết án họ, đã loại họ ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Và rồi muôn dân khắp thiên hạ đã được mời vào dự tiệc của Thiên Chúa. Thiên hạ sẽ từ Đông chí Tây, từ Bắc chí Nam đến dự tiệc Nước Thiên Chúa, còn con cái trong nhà sẽ bị loại ra ngoài. Người ta bị loại chỉ vì thiếu một tấm lòng.
Chúa Giêsu kể thêm một câu chuyện khác cũng về tiệc cưới của hoàng tử. Khi đức vua vào phòng tiệc thì thấy một người không mặc y phục lễ cưới. Đi dự một đám cưới mà trên người chỉ có chiếc "may - ô" và cái quần cộc hay với bộ đồ đen của "đám tang" thì quả là xấc xược với đôi tân hôn, với chủ tiệc và với cả quan khách. Lại còn ương ngạnh, không thèm trả lời khi được chất vấn, thì quả là người chẳng coi ai ra gì, đúng hơn là chẳng biết nghĩ đến kẻ khác. Đi dự một lễ hội, tiệc tùng hay đình đám thì chuyện mặc y phục gì, kiểu dáng ra sao, màu sắc thế nào... không nguyên là để làm đẹp bản thân mà tiên vàn là để tôn trọng chủ nhà, tôn trọng nội dung, bầu khí buổi lễ, buổi tiệc... Đã là người biết nghĩ, thì không ai ăn mặc hở hang, lòe loẹt đi dự đám tang và cũng chẳng có ai mặc toàn màu đen đi dự đám cưới.
Nguời không biết nghĩ đến kẻ khác thì không xứng đáng dự tiệc nước trời, vương quốc của tình yêu. Vào đạo, gia nhập Hội Thánh...mà chỉ biết lo cho bản thân mà thôi, cho dù là phần rỗi linh hồn mình, thì không xứng đáng lãnh nhận ân tình của Chúa. Chốn khóc lóc và nghiến răng là nơi dành cho những kẻ chỉ biết sống cho riêng mình.
Được làm con cái Chúa thì phải lấy danh Chúa làm trọng. Nguyện xin cho danh Cha cả sáng. Được làm tín hữu trong Hội Thánh thì phải mến yêu người mẹ sinh ta trong đức tin. Xin gìn giữ Hội Thánh Chúa trong chân lý và binh an. Được làm con dân nước Việt thì phải đồng hành với dân tộc trong mọi hoàn cảnh lịch sử. Xin cho quê hương được thái bình thịnh vượng trong công lý. Những lời cầu xin cũng là những ý chỉ định hướng cuộc đời ta, hành vi của ta.
Những ngày vừa qua, truyền thông đại chúng nước nhà đất Việt chúng ta đã dùng xảo kế làm méo mó chân dung một vài đấng bậc trong Hội Thánh, gieo rắc ác cảm nơi tâm hồn nhiều bà con lương dân và khác đạo. Chính quyền Hà Nội lại còn dùng bạo lực đối xử cách bất công với nhiều tín hữu Công giáo. Là người đang cùng chung bữa căn nhà Hội Thánh, chúng ta hẳn đau xót cách này cách khác. Thế nhưng, sau một vài ngày, một vài tuần, lòng ta có lại dửng dưng như chưa có chuyện gì xảy ra? Hy vọng rằng sẽ chẳng có ai tự bằng lòng với một vài lời kinh hiệp thông cầu nguyện để che dấu tấm lòng ích kỷ chỉ lo cho riêng mình, sợ bị phiền toái, sợ bị bách hại hay sợ ảnh hưởng đến đường thăng tiến tương lai.
Trước tình cảnh đất nước nhiễu nhương vì nạn tham nhũng, gian dối, bạo lực, bất công... là đồng bào, là người con cùng một dạ mẹ tổ quốc, chúng ta có dừng lại ở một vài xuýt xoa, than thở, tán gấu vĩa hè...để rồi phủi tay xem như chuyện của người khác phải lo, phải liệu, chứ không phải của tôi? Hy vọng rằng sẽ chẳng có ai đóng khung các mối lo toan bằng vòng tay của bản thân hay các cánh cửa gia đình riêng mình.
Lạy Chúa xin cho chúng con có một tấm lòng.
17. Sinh ra dưới một ngôi sao xấu—Lm. JB. Lê Ngọc Dũng
Có khi nào ông bà anh chị em cảm thấy mình sinh ra dưới một ngôi sao xấu không? Trên đời, có người sinh ra thì đã mang những bệnh tật hay đui, mù, què quặt; sinh ra thì đã ngu đần, thiểu năng trí tuệ; sinh ra mà đã bất tài rồi thì làm ăn mãi mà vẫn thất bại, nghèo khổ vẫn cứ nghèo khổ.
Một cô gái thầm nghĩ: sao người ta lại đẹp gái duyên dáng đến thế mà tôi lại xấu quá đi mất chẳng ai mà dám lấy tôi làm vợ, tôi sinh ra dưới một ngôi sao xấu!
Nếu phải ở trong tình trạng trên, ta có buồn chán hay thất vọng không, và thậm chí có than trách Chúa bất công hay ông Trời không có mắt hay không?
Dụ ngôn mời dự tiệc cưới của CGS sẽ hướng dẫn ta nhận ra cái vận mệnh tốt xấu của mình.
Những người được mời dự tiệc cưới, trước tiên là những người giàu có sang trọng có nhiều địa vị trong xã hội. Họ được người đời cho là những người sinh ra dưới vị sao sáng. Họ thông minh, có nhiều tài năng, có sắc đẹp và được người đời ngưỡng mộ. Họ là những đại gia, là những tài tử, là những người mẫu... Họ thuộc top người giàu nhất thế giới, họ nổi tiếng khắp nơi.
Trong báo chí, người ta đã từng chú ý đến 4 nhà kinh doanh lớn trên thế giới và nhiều người đọc thầm mong ước ao được như họ.
Những người ấy là Bill Gates, ông tổ của máy vi tính và được báo chí nói ông ta rất tin tưởng vào tài năng của mình, là một người dường như luôn tin rằng bất cứ điều gì mình làm đều đem lại nhiều tiền.
Người thứ hai là Ric-hard Branson, một doanh nhân, ông chủ của một hệ thống các công ty mang thương hiệu Virgin với mật độ hiện diện rộng khắp toàn cầu và báo chí viết về ông rằng: “Đối với những ai đang cháy bỏng niềm đam mê với tinh thần doanh nhân, những trang sách lưu giữ hồi ức của ông tựa như một cuốn cẩm nang dẫn đường vậy”.
Người thứ ba là Warren Buffett, người được mệnh danh là vị thánh trong lĩnh vực đầu tư tài chính, lại có một phong cách quản lý quỹ đầu tư khác thường.
Nhân vật cuối cùng là Steve Jobs, ông chủ của một loại máy vi tính nhỏ, hiệu Apple. Cái Iphone, điện thoại di động nổi tiếng là của ông ta. Báo chí viết rằng: “Một tuyệt phẩm quý giá và cần thiết cho những ai muốn khám phá những bí mật thẳm sâu bên trong trí tuệ của Steve và tìm hiểu xem điều gì đã khiến Apple trở nên vĩ đại như vậy”.
Ngày nay người ta lại nói đến Jeff Bezos nhà sáng lập Amazone đang soán ngôi giàu nhất thế giới với Bill Gates.
Họ là những người được ca tụng như những người làm thay đổi vận mạng thế giới của thời đại hôm nay. Độc giả cũng phải buộc miệng khen: Họ quá tài giỏi. Cuộc đời và sự nghiệp của họ là nguồn cảm hứng bất tận cho những ai đang vật lộn với sự nghiệp kinh doanh của mình.
Bây giờ chúng ta nói đến những người được mời dự tiệc cưới ở phần sau: họ là những người nghèo khổ, họ ở đầu đường xó chợ, họ bất tài, họ xấu xí, trí tuệ kém cỏi, làm ăn hay thất bại. Tuy nhiên nhiều người trong họ lại sẵn sàng nhận lời mời dự tiệc cưới.
Tôi nhớ đến trường hợp một bà mẹ già một mình đã phải vất vả nuôi 4 đứa con bị điên với đầy tình yêu thương; một trường hợp khác: một bà cụ 35 trời ngồi vá xe đêm. Tuy tuổi đã già, 76 tuổi, tuổi mà đáng lý ra bà phải được nghỉ ngơi, nhưng bà đã thức suốt đêm ở một góc đường Lê Quang Định – Nguyễn Văn Đậu thành phố Hồ Chí Minh để vá xe, khi xe ai đó bị lỡ cán đinh, xì hơi... suốt 35 năm, nhiều biến cố xảy ra, chồng mất, nhà bán, các con tan tác nhưng bà vẫn bám trụ góc phố này như một sự gắn bó định mệnh. Cụ không ước mơ một ngày nào đó mình sẽ đủ sống mà không cần vá xe nữa, cụ chỉ ước có nơi trú ngụ cho tuổi già. Vá xe, không chỉ là mưu sinh mà cũng là cách để cụ giữ những ký ức về người chồng yêu thương, về những tháng ngày ấm nồng bên người đàn ông của cuộc đời mình. Giờ đây, bên cạnh cụ là đứa cháu hơn ba tuổi gọi bằng cố. Những khi không có khách, cụ vui đùa cùng cháu và vỗ về giấc ngủ cho cháu ngay góc đường luôn nườm nượp người xe qua lại.” Trông hai bà cháu thật hạnh phúc.
Thử hỏi ông bà anh chị em, những người tài năng giàu sang có hạnh phúc hơn bà cụ này không? Hay là họ phải lo lắng không yên, mất ăn mất ngũ. Trong dụ ngôn có nói họ lo làm ăn buôn bán đến độ không màng chi đến lời mời gọi dự tiệc cưới của con Vua. Đời sống vật chất, sự thành công của họ thì quan trọng hơn đời sống tinh thần, và rất có thể sẵn sàng làm những việc xấu như lừa đảo, áp bức, tham nhũng hối lộ để tạo sự nghiệp cho mình. Đời sống vật chất, hưởng thụ quan trọng hơn là những niềm vui tinh thần; niềm vui tạm bợ hơn là niềm vui vĩnh cửu. Họ không biết đến hành vi phục vụ bác ái yêu thương mang lại niềm hạnh phúc.
Còn những người nghèo khổ xấu số nhưng lại tin tưởng và sống thực hành Lời Chúa thì họ rất bình an và vui vẻ hạnh phúc trong tâm hồn. Chưa nói đến niềm hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng, ngay ở đời này họ cũng đã cảm thấy hạnh phúc vì cảm nhận được ân phúc thiêng liêng mà Thiên Chúa dành cho họ.
Và như vậy chúng ta thấy, dưới ánh sáng của Lời Chúa, không ai lại sinh ra dưới một ngôi sao xấu. Những hoàn cảnh nghèo hèn, bất tài, bất hạnh... với con mắt thế gian thì chúng thuộc về định mệnh của một ngôi sao xấu, nhưng dưới con mắt được ánh sáng Lời Chúa soi chiếu thì nó lại là cơ hội để trở thành bình an hạnh phúc nếu biết sống theo mời gọi của Thiên Chúa.
18. Chiếc áo cưới của tôi--Lm. Xuân Hy Vọng
Trong những tiệc tùng, cách riêng đám cưới ngày nay, ai nấy đều diện lên những bộ áo quần lộng lẫy, rực rỡ, sang trọng khi được mời tham dự. Lẽ dĩ nhiên, mọi người tổ chức cũng như tham dự viên đều luôn vui tươi, hớn hở, tay bắt mặt mừng, trao cho nhau những lời chúc đằm thắm, và đôi khi cũng ‘có cánh’ nữa!
Tiệc cưới trần gian hoành tráng, cao sang, trịnh trọng, rực rỡ thế nào, thì tiệc cưới Nước Trời vượt xa những sự chóng quá, phù phiếm và vô thường như vậy. Tuy nhiên, khách được mời dự tiệc Nước Trời đã không chịu đến, mặc dù tiệc mừng đã dọn sẵn, đã hạ bò, thịt bê béo, mọi sự đã tươm tất (x. Mt 22, 3. 4. 8). Chúng ta thấy rằng tất cả những lí do, lời biện giải mà khách mời đưa ra hoàn toàn không xứng tầm với ơn diễm phúc được dự tiệc Nước Trời; nào là “chẳng thèm đếm xỉa, lại bỏ đi: kẻ đi thăm trang trại, người thì đi buôn, có khi còn bắt các đầy tớ, nhục mạ và giết chết” (x. Mt 22, 5-6). Nhìn thật kỹ và gần, chúng ta sẽ nhận ra chi tiết đó phản phất hình dáng và cuộc sống của bản thân chúng ta. Với thái độ khước từ, lãnh đạm, dửng dưng trước lời mời gọi tha thiết, nhẫn nại của Thiên Chúa theo dòng thời gian; ngược lại, chúng ta lao vào thói đời, đam mê thú vui trần thế. Chúng ta nhanh nhẹn dang tay, đưa chân cho những thứ vật chất chóng qua, tàn lụi qua năm tháng, dẫn dắt đến mức biến chúng ta thành kẻ lệ thuộc vào nó. Thay vì làm chủ vật chất, giờ đây, chúng ta trở nên ‘tôi tớ’ của nó, tệ hơn, là ‘nộ lệ’ kiểu mới của thú vui, triết thuyết, ý thức hệ đượm tính ‘vô sinh’ như lời Đức Thánh Cha Phan-xi-cô giải thích trong Thông điệp mới nhất Fratelli Tutti (Tất cả là Anh chị em): “các ý thức hệ khác nhau chi phối, tạo ra nhiều hình thái của thói ích kỷ, và đánh mất cảm thức xã hội với chiêu bài đội lốt bảo vệ lợi ích quốc gia…Hơn nữa, ý thức hệ được truyền bá nhằm huỷ hoại hay phá hoại tất cả các đặc tính khác biệt đa dạng, để dễ dàng cai trị mà không lo bị chống đối hoặc phản kháng nào” (x. Thông điệp Fratelli Tutti số 11 và 13 [theo bản dịch của tác giả viết bài suy niệm này]).
Quả thật, tiệc cưới Nước Trời trước tiên được mở ra cho dân Do thái. Nhưng vì họ lòng chai dạ đá, khước từ, và chẳng đoái hoài, “Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời lại không xứng đáng…”, nên Thiên Chúa đã thi ân, ban phát rộng rãi, kêu mời tất cả các dân nước cùng đến thông phần tiệc vui khôn tả này “vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới” (x. Mt 22, 8-9 theo thứ tự trích dẫn trên). Cảm tạ Chúa đã đoái thương, và trao ban ơn sủng dự phần vào sự hạnh phúc viên mãn của Ngài! Bất luận nam hay nữ, già hay trẻ, văn hoá, ngôn ngữ, màu da, tôn giáo khác nhau chăng nữa, tất cả được Chúa ưu ái gọi mời hết mọi người chia san đặc tính chân-thiện-mỹ, mà được nhận lãnh từ Ngài, là nguồn Chân-Thiện-Mỹ. Hơn nữa, là Ki-tô hữu, khi chịu Bí tích Thanh tẩy (Rửa tội), chúng ta cũng được khoác lên mình tấm áo trắng, dấu chỉ biểu trưng cho ‘tạo vật mới và mặc lấy Đức Ki-tô’ như lời trong nghi thức Rửa tội “…con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Chúa Ki-tô. Chiếc áo trắng này là dấu chỉ tước vị của con. Nhờ lời chỉ bảo và gương lành của thân nhân giúp đỡ, con hãy mang nó tinh tuyền mãi cho đến cõi trường sinh” (theo “Sách lễ nghi Giám mục”, cuốn De Benedictionibus được Thánh Bộ Phụng Tự ban hành 31/5/1984). Chiếc áo trắng này phản phất hình ảnh áo cưới dự tiệc Nước Trời. Lẽ dĩ nhiên, Chúa đã kêu mời tất cả vào Thiên quốc, và Ngài cũng trao cho chúng ta áo cưới để giúp chúng ta xứng đáng và hưởng trọn vẹn hạnh phúc tiệc mừng ấy. Áo cưới ấy không gì khác hơn chính là ân sủng cần thiết, là đặc sủng, ơn công chính hoá, ơn trở nên thụ tạo mới, ơn tha tội, ơn được làm con cái Chúa, và nhất là ơn ‘mặc lấy Đức Ki-tô’. Nghĩa là: bỏ con người cũ, bỏ những thói hư tật xấu của bản thân, mà mặc lấy lối sống, cách suy nghĩ, ánh nhìn, thái độ, tư tưởng, hành vi, cung cách đối nhân xử thế của Đức Ki-tô. Ngài yêu thương mọi người, không loại trừ ai, không giản lược ai thành đồ vật hay phương tiện để đạt mục đích riêng; trong khi đó, chúng ta thường mến mộ với kiểu thiên vị, bè phái, loại trừ tha nhân, và có thái độ rút gọn, giảm thiểu anh chị em dựa trên não trạng hẹp hòi, thiển cận của cá nhân. Đức Ki-tô hằng quan tâm, an ủi vỗ về những ai bé mọn, nghèo hèn, những ai bị bỏ rơi trong quên lãng do thái độ dửng dưng, phớt lờ của con người cũng như cộng đồng xã hội. Ngài luôn thương xót, tha thứ cho kẻ tội lỗi biết ăn năn trở về; Ngài đón nhận hết thảy những ai bị ‘nhốt trong tường luỹ ngăn cách của hận thù, mê muội, vô tri’, cũng như ôm trọn tất cả mọi người có lòng thiện chí, hy sinh, dấn thân cho công lý-hoà bình-công ích, v.v…Như vậy, khi tôi được trao áo cưới để tham dự tiệc Nước Trời, thì tôi phải mặc lấy Đức Ki-tô, mặc lấy con người của Ngài trong mọi phương diện.
Quả vậy, nhờ mặc lấy Đức Ki-tô, và trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, mà Thánh Tông đồ Phao-lô dám quả quyết với giáo đoàn Phi-líp-phê: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi…” (x. Pl 4, 13), và đanh thét hơn “Tôi sống nhưng không còn là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (x. Gl 2, 20). Thánh nhân đã được nhận chiếc áo cưới, và khoác nó trên mình, đến độ chẳng rời xa bao giờ. Ngài giữ nó mãi tinh tuyền như con người Đức Ki-tô; ngài mặc nó trong mọi hoàn cảnh, mọi thời khắc; ngài chia sẻ Tin Mừng (chính Đức Ki-tô Giê-su) và tất cả những gì thuộc về Đức Ki-tô cho anh chị em khác, bất luận Do Thái hay Hy Lạp, tín hữu hay dân ngoại, tự do hay nô lệ, vượt xa hết thảy định kiến thấp hèn của con người về sắc tộc, ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo. Còn bạn và tôi, là Ki-tô hữu, chúng ta cũng đã được khoác trên mình chiếc áo cưới trắng ấy. Chúng ta sẽ mặc nó mãi, giữ cho nó tinh tuyền, và chia san mọi nét phú túc vinh sang của nó qua cuộc sống hằng ngày, qua môi trường làm việc, gặp gỡ mọi người, qua các lĩnh vực chuyên môn của chúng ta chứ? hay ngược lại, trở nên nhát đảm, cất giấu như hình ảnh người không mặc y phục lễ cưới trong dụ ngôn, hoặc phủ lên nó những gì trần tục, chóng qua của vật chất, danh vọng, thành đạt hão huyền, tệ hơn là đánh mất, vứt bỏ nó như thể nền văn hoá ‘vứt bỏ/bỏ đi/huỷ hoại’ ngày nay, thứ văn hoá mà Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô khuyến cáo nhiều lần (x. Thông điệp Fratelli Tutti số 18 và 19 [theo bản dịch của tác giả viết bài suy niệm này]).
Sau cùng, chúng ta cùng mượn lời của Thánh Tông đồ Phao-lô trong gửi cho giáo đoàn Ga-lát mà chung lời nguyện xin: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô” (Gl 3, 27).
Chiếc áo cưới tinh tuyền
Chẳng được mua bằng tiền
Nhưng chính nhờ Bửu Huyết
Rửa sạch hết tội nhơ.
Bạn và tôi ghi nhớ:
Khoác áo cưới mỗi ngày
Mặc lấy con người Thầy
Yêu thương và tha thứ
Dự tiệc cưới Nước Trời. Amen!
19. Chúa Nhật 28 Thường Niên--Lm Gioan Phan Tiến Dũng
Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu nói về dụ ngôn tiệc cưới “Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Có bao giờ anh chị em khi tổ chức tiệc mừng, mà lo sợ rằng khách mời sẽ không đến? Hay là ACE đã gặp phải trường hợp giống như ông chủ trong dụ ngôn chăng? Nếu có lo lắng hay gặp điều không may như vậy, thì ACE đã ứng xử thế nào với các vị khách mời và các vật phẩm mà mình đã chuẩn bị? Trong những ngày vừa qua, khi tổ chức cho Đại lễ mừng Bổn mạng của Giáo xứ, điều mà làm cho tôi băn khoăn, lo lắng là: không biết khi gởi thiệp mời dự tiệc mừng Bổn mạng, ACE có đến dự hay là không? Nếu ACE đến ít, dư nhiều bàn thì mình phải làm sao đây? Cảm tạ Chúa, cám ơn mọi người. ACE đã đến rất đông không những trong các Thánh lễ, các nghi thức tôn vinh Mẹ Mân Côi, mà còn đi đông đủ trong tiệc mừng nữa. Qua cử chỉ và hành động này, ACE đã đáp lại lời mời gọi của tôi và Giáo xứ để chúng ta đến với Chúa và đến với nhau trong tâm tình cảm tạ và tri ân.
Thiên Chúa trong muôn vàn cách thế, cũng đã quan phòng và yêu thương chúng ta hết mực, Ngài đã chuẩn bị, lo liệu tất cả mọi sự cho chúng ta không những có những của ăn để nuôi sống phần xác, mà còn những của ăn thiêng liêng nuôi sống linh hồn chúng ta. Thánh vịnh 22 trong Đáp ca nhắc nhở cho chúng ta điều này, mỗi khi chúng ta để cho Chúa lo liệu, thì chẳng có gì chúng ta phải lo sợ “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi”. Thế thì giờ đây được mời gọi để nhìn lại, trước muôn vàn ân ban là tình yêu quan phòng của Chúa, chúng ta đã sống đáp trả thế nào? Thánh Phaolô trong bài đọc hai, đã chia sẻ lại kinh nghiệm sống này cho chúng ta, vì Ngài đã cảm nếm và trải nghiệm, cho dù phải sống trong hoàn cảnh nào, dẫu phải thiếu thốn hay được hưởng sung túc, dẫu được no đủ hay phải đói khát, Ngài vẫn luôn tin tưởng, tín thác và cố gắng để nhận ra thánh ý yêu thương mà Chúa dành cho Ngài. Tại sao Phaolô có thể làm được như vậy: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi”. Đồng thời, Phaolô cũng nhận ra ơn Chúa ban cho Ngài cách cụ thể hơn qua lòng quảng đại, sự chia sẻ của các tín hữu Philipphê nơi mà Ngài được sai đến để phục vụ.
Còn với chúng ta, trong cuộc sống hiện tại, chúng ta có cảm nhận được và tin rằng Chúa đang chăm lo và tạo những cơ hội khác nhau để ban ơn cho chúng ta? Cách cụ thể và đặc biệt hơn hết, mỗi ngày qua bàn tiệc Thánh Thể, Chúa luôn chuẩn bị và mời gọi chúng ta đến để thiết đãi cho chúng ta được hưởng dùng những thực phẩm cao quý. Thực phẩm này không chỉ là cơm bánh, thịt cá bình thường, nhưng nơi bàn tiệc đặc biệt này, đây là bàn tiệc của tình yêu, bàn tiệc của lòng thương xót, bàn tiệc của sự tha thứ và biến đổi; Chúa luôn thiết đãi chúng lương thực đặc biệt đó chính là Mình Máu Thánh Chúa. Thật vậy, không còn gì cao quý hơn và bổ dưỡng hơn cho cuộc sống chúng ta khi được Chúa yêu thương và thiết đãi món ăn từ trời như vậy. Vậy thì, chúng ta phải cần xem lại mình đã có thái độ và cung cách nào khi chúng ta đến và lãnh nhận những lương thực hồng phúc ấy.
Dụ ngôn trong Tin mừng đã thuật lại câu chuyện, những vị khách được chủ trân quý mời dự tiệc cưới, nhưng họ đã nại đến nhiều lý do để từ chối và không muốn tham dự. Thái độ này của những khách được mời nói lên mối tương quan xa lạ với ông chủ. Họ không những không trân quý tình thương và lòng quý mến mà chủ đã dành cho họ, mà họ còn chối bỏ chính phẩm giá của mình và cơ hội tốt để họ được chủ thiết đãi những vật phẩm cao quý nữa. Dụ ngôn này, chắc cũng còn lập lại và thường tái diễn nơi một số Kitô hữu. Mỗi Chúa Nhật, vì lý do nào đó mà họ đi trể - về sớm, họ phải đứng từ xa xa ngoài sân - ngoài cổng, họ không thể tham dự lễ sốt sắng và không thể rước lấy Mình Thánh Chúa…Cũng có thể vì thời tiết, vì sức khỏe, vì công việc, hay vì ham muốn sự đời, mà nhiều người vẫn không thể dành cho Chúa ít nhất một giờ trong tuần… Nếu những hoàn cảnh như vậy vẫn đang xảy ra trong cộng đoàn của chúng ta, thì thử hỏi Thiên Chúa sẽ đối xử với chúng ta thế nào?
Thưa ACE, dẫu chúng ta vì yếu đối hay vì tội lỗi mà đối xử với Chúa thế nào đi nữa, Ngài vẫn luôn kiên nhẫn chờ đợi và tạo những cơ hội tiếp theo tốt hơn để thiết đãi cho chúng ta được hưởng dùng chính ơn sủng của Chúa. Xin Chúa ban ơn giúp sức, để chúng ta khiêm tốn tin nhận ra được chính ơn ban tình yêu mà Chúa dành cách đặc biệt cho chúng ta qua các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Để với ơn ban này, chúng ta luôn hăng say, mở lòng chuẩn bị và mau mắn đến với Chúa để được Ngài thiết đãi chúng con với thần lương từ trời. Lạy Mẹ Maria Mân côi, khi xưa Mẹ đã mau mắn thưa xin vâng với ơn Thánh Chúa, xin Mẹ cũng dạy chúng con luôn biết mở lòng và chuẩn bị tâm hồn sốt sắng để đón rước Chúa vào lòng và cuộc sống của chúng con. Amen.
20. Bạn đã sẵn sàng dự tiệc của Thiên Chúa chưa?--Jaime L. Waters--Chuyển ngữ: ĐCV Sao Biển
Trong Tin mừng Chúa nhật 28 Thường niên năm A chúng ta được nghe một (hoặc hai) dụ ngôn về Nước Trời. Như câu chuyện về các tá điền sát nhân trước đó, dụ ngôn tiệc cưới đề cập và phê phán các nhà lãnh đạo Do Thái, đồng thời đưa ra những nhận định về cách thức để được vào và ở lại trong Nước Trời.
Sách Bài đọc có sự chọn lựa bài Tin mừng bản ngắn (22,1-11) và bản dài (22,1-14) vì phần kết thúc của dụ ngôn không rõ ràng. Bài Tin mừng bản ngắn là cấu trúc tiêu chuẩn của một dụ ngôn về Nước Trời. Nhà vua (Thiên Chúa Cha trên trời) tổ chức một bữa tiệc cho con trai mình (Chúa Giêsu). Những người đầy tớ (các ngôn sứ) mời nhiều khách dự tiệc (các nhà lãnh đạo Do Thái). Tuy nhiên các vị khách bỏ đi và một số khách mời này đã ngược đãi và giết hại các đầy tớ, đây là một ẩn dụ ám chỉ những ai chối bỏ các ngôn sứ.
Sau khi bữa tiệc bị gián đoạn, nhà vua “liền nổi cơn thịnh nộ, sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó, và thiêu hủy thành phố của chúng”. Điều này thường được giải thích là ám chỉ việc đế quốc La mã tàn phá Giêrusalem khoảng 40 năm sau khi Đức Giêsu qua đời. Thánh Matthêu sắp xếp việc tàn phá có tính lịch sử thành phố của những khách mời không dự tiệc cưới như sự trừng phạt của Thiên Chúa.
Sau khi tàn phá thành phố, vua nói với các đầy tớ rằng những khách được mời đã không xứng đáng, vậy nên mời những vị khách mới (có thể là những người lắng nghe Tin mừng) ở ngoài đường. Những vị khách mới, kẻ xấu cũng như người tốt, lấp đầy phòng tiệc. Nếu kết thúc ở chỗ này, dụ ngôn cho rằng tất cả mọi người, cả tốt lẫn xấu, đều được mời gọi lắng nghe sứ điệp Tin mừng. Dụ ngôn này trong Tin mừng Luca kết thúc ở đây (Lc 14,16-24) cho thấy các câu tiếp theo của Tin mừng Matthêu (22,11-14) có lẽ đã được tách rời ngay từ ban đầu.
Nơi những câu kết thúc (22,11-14) của bản dài trong Matthêu, vua gặp thấy một trong những khách mời không mặc trang phục tiệc cưới. Vua phê phán trang phục anh mặc và ra lệnh giam anh vào ngục tối, nơi phải khóc lóc và nghiến răng (hỏa ngục).
Rất khó để đọc những câu kết thúc của bản dài nơi Matthêu như một dụ ngôn liên tục vì phản ứng của vua đối với vị khách không mặc đúng trang phục có vẻ kỳ quặc và vô lý. Nếu vị khách mới này được gọi từ đường phố vào phòng tiệc, anh sẽ không ngờ mình dự tiệc cưới để ăn mặc cho chỉnh tề. Trong khi việc không mặc lễ phục cưới dường như là một phần của bối cảnh dụ ngôn, bản văn gây khó hiểu về việc anh thiếu lễ phục cưới dẫn đến phải chịu hình phạt. “Lễ phục cưới” của anh có thể ám chỉ sự cởi mở đón nhận Tin mừng hoặc sự sẵn lòng cho cuộc sống mới trong Đức Kitô. Bởi vì người đàn ông không thể nói gì khi được hỏi về trang phục của mình, điều này có thể cho thấy anh không chuẩn bị hoặc không sẵn sàng thích ứng bản thân và cuộc sống để vào Nước Trời.
Nếu các câu cuối cùng được tách rời như một dụ ngôn tương tự để giúp giải thích phản ứng của vị vua đối với khách mời này hơn là được xem như phần tiếp tục câu chuyện. Trong trường hợp như vậy anh đã thuộc thành phần khách được mời từ ban đầu và ăn mặc chỉnh tề cho tiệc cưới. Như thế, không làm rõ được những gì lễ phục cưới muốn chuyển tải, nhưng là giải thích sự trừng phạt của vị vua vào cuối câu chuyện.
Mặc dù hơi khó hiểu, dụ ngôn minh họa sự cởi mở của Thiên Chúa với tất cả mọi người, không chỉ với một số người được tuyển chọn. Tuy nhiên, mặc dù Chúa mời gọi tất cả mọi người, nhưng dụ ngôn cho thấy khách mời phải sẵn sàng và sẵn lòng làm những gì cần thiết để thưởng thức bữa tiệc. Chấp nhận lời mời là bước đầu tiên, nhưng những người được “chọn” là những ai không chỉ chấp nhận Tin mừng mà còn sống theo sứ điệp của Tin mừng.
Nguồn tin:
https://www.americamagazine.org/faith/2020/09/18/are-you-ready-gods-feast
21. Chúa Nhật 28 Thường Niên--Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Qua hình ảnh bàn tiệc, các ngôn sứ đã thử mô tả niềm vui tương lai của những người công chính trong thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc, đồng thời ơn cứu độ và muôn vàn thiên ân đa dạng vào thời Thiên Sai. Bàn tiệc thời Cánh Chung hay bàn tiệc thời Thiên Sai trộn lẫn với nhau ít nhiều trong cùng một biểu tượng.
Is 25: 6-9
Trong Bài Đọc I, được trích từ “sấm ngôn khải huyền của I-sai-a”, bàn tiệc mà Thiên Chúa thiết đãi muôn dân là bàn tiệc thời Cánh Chung cũng là bàn tiệc thời Thiên Sai. Đây là niềm hân hoan khôn tả của những người được tuyển chọn, vì mọi đau khổ và sự chết đều hoàn toàn biến mất trong Nước Trời.
Pl 4: 12-14, 19-20
Trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô bày tỏ tấm lòng tri ân đối với cộng đoàn Phi-líp-phê nầy. Trái với thông lệ vốn có của mình, thánh Phao-lô đã chấp nhận sự giúp đỡ vật chất của họ khi thánh nhân gặp phải sự khốn khó trong cảnh giam cầm.
Mt 22: 1-14
Tin Mừng thuật lại dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử được Đức Vua thiết đãi cho các vị quan khách thân hữu của mình. Tuy nhiên các vị quan khách lại từ chối, vì thế lời mời được gởi đến tất cả mọi người.
BÀI ĐỌC I (Is 25: 6-9)
Trong văn mạch của các chương 24-27, bản văn được trích dẫn là một phân đoạn đặc thù của sách I-sai-a, thuộc thể loại sấm ngôn khải huyền. Người ta nghi ngờ tác giả của phân đoạn nầy không phải là ngôn sứ I-sai-a, bởi vì văn phong và tư tưởng thuộc thời đại sau nầy. Viễn cảnh của đoạn văn này là thời Cánh Chung (25: 6-8) và thời Thiên Sai (25: 9). Hình ảnh bàn tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân diễn tả ơn cứu độ phổ quát và niềm hân hoan khôn tả của những người được tuyển chọn.
1. Viễn cảnh thời Cánh Chung:
“Ngày ấy, trên núi nầy,
Đức Chúa các đạo binh sẽ thiết tiệc đãi muôn dân một bữa tiệc” (Is 25: 6a)
“Trên núi nầy”, đó là ngọn đồi Si-on trên đó Đền Thờ được xây dựng. Theo ngôn ngữ khải huyền, “núi Si-on” chỉ thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc, nơi Thiên Chúa thiết tiệc đãi “muôn dân muôn nước”. Ơn gọi phổ quát của núi thánh đã được ngôn sứ I-sai-a loan báo, chính xác vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên:
“Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa
đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao,
vươn mình trên hết mọi ngọn đồi.
Dân dân lũ lượt đưa nhau tới,
nước nước dập dìu kéo nhau đi.” (Is 2: 1-5).
Cũng chính vị ngôn sứ này nhắc lại:
“Vì Đức Chúa các đạo binh hiển trị
trên núi Si-on và tại Giê-ru-sa-lem” (Is 24: 23).
Vào thời hậu lưu đày, ngôn sứ Da-ca-ria cũng loan báo theo cùng một cách như thế: “Các dân đông đảo và các nước hùng cường sẽ đến tìm kiếm Đức Chúa các đạo binh ở Giê-ru-sa-lem” (Dcr 8: 22). Thời cánh chung sẽ là giờ Đức Chúa hiển trị. Bữa tiệc cánh chung là bữa tiệc của Đức Vua. Đức Giê-su sẽ lấy lại chủ đề nầy trong dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử.
Chất lượng tuyệt hảo của thức ăn thức uống nhấn mạnh tấm thịnh tình của Thiên Chúa đối với các quan khách mời:
“Tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon,
thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25: 6b).
Cho đến lúc đó, trong các hy lễ, “thịt béo” luôn luôn được dành riêng để dâng tiến Chúa (Lv 3: 3-5, 9-11, 14-15). Điều đó muốn nói lên rằng con người sẽ được dự phần vào những thiện hảo được dành riêng cho chỉ một mình Thiên Chúa.
Trong Kinh Thánh, rượu luôn luôn là dấu chỉ của niềm vui. Vào dịp nầy, đây là một niềm vui vĩnh viễn bởi vì:
“Trên núi nầy, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân,
và tấm màn trùm lên muôn nước.
Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần
Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ
trên khuôn mặt mọi người,
và trên toàn cõi đất, Người sẽ xóa sạch
nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy” (Is 25: 7-8)
Sách Khải Huyền Gioan sẽ lấy lại viễn cảnh chứa chan hy vọng nầy: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21: 4).
2. Viễn cảnh thời Thiên Sai (25: 9)
Sấm ngôn hoàn tất với cuộc hội ngộ vượt quá niềm mong đợi:
“Ngày ấy, người ta sẽ nói: ‘Đây là Thiên Chúa chúng ta,
chúng ta từng trong đợi Người, và được Người thương cứu độ” (25: 9a)
và một niềm hân hoan chưa bao giờ dám ước mơ:
“Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông.
Nào chúng ta hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ” (25: 9b).
Niềm vui viên mãn, sự no thỏa dư dật cũng sẽ là những dấu hiệu của thời Thiên Sai như tiệc cưới Ca-na hay phép lạ hóa bánh ra nhiều, cả hai đều là dấu chỉ của bàn tiệc thời Thiên Sai đích thật là bàn tiệc Thánh Thể: “Hãy cầm lấy mà ăn”.
BÀI ĐỌC II (Pl 4: 12-14, 19-20).
Với đoạn trích nầy, chúng ta kết thúc thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê. Xin nhắc lại rằng thánh Phao-lô viết bức thư nầy khi thánh nhân đang sống trong cảnh giam cầm ở Rô-ma hoặc ở Ê-phê-xô. Các tín hữu Phi-líp-phê đã giúp đỡ ngài, vả lại đây không là lần đầu tiên (Pl 4: 16). Quả thật, các tín hữu Phi-líp-phê là cộng đoàn độc nhất mà thánh nhân đã không từ chối sự giúp đỡ vật chất của họ. Thánh nhân luôn luôn bận lòng là không bao giờ để cho mình phải trở thành gánh nặng cho các cộng đoàn mà ngài loan báo Tin Mừng để không bao giờ làm hại đến sứ vụ của ngài. Để người ta có thể tin rằng lời loan báo Tin Mừng của ngài là vô vị lợi, thánh nhân đã không ngừng lặp đi lặp lại Tin Mừng mà ngài đem đến là một ân ban nhưng không. Với tư cách là “tôi tớ” của Đức Kitô, thánh nhân không mong chờ bất kỳ bổng lộc nào. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thánh nhân đã lao động bằng chính bàn tay của mình để chi cấp cho nhu cầu của mình: “Chúng tôi phải vất vả và tự tay làm lụng. Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu” (1Cr 4: 12). Khi từ chối sự giúp đỡ của các tín hữu, thánh Phao-lô muốn họ hiểu rằng ngài không muốn bị ràng buộc với bất cứ ai và quyết tâm gìn giữ sự tự do của mình để Tin Mừng mà ngài rao giảng không gây trở ngại cho bất kỳ ai, như ngài viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Chúng tôi chịu đựng tất cả mọi sự để khỏi gây trở ngại cho Tin Mừng của Đức Kitô” (1Cr 9: 12).
Tuy nhiên, do mối quan hệ thân tình và niềm tin tưởng gắn bó của thánh nhân với các tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô chấp nhận sự giúp đỡ của họ, vì biết rằng nghĩa cử của họ biểu lộ tấm lòng yêu mến chân thành đối với ngài. Thánh Phao-lô tế nhị cám ơn họ và xin họ đừng bận lòng thái quá đối với ngài, vì thánh nhân biết hài lòng trong mọi sự và thích nghi với mọi hoàn cảnh. Ở đây, người ta có thể gặp lại cách nói tương tự dưới ngòi bút của các triết gia khắc kỷ như Ēpictète hay Sénèque. Nhưng trong khi các hiền triết xưa múc lấy nguồn bình an tự tại nơi chính mình, thánh Phao-lô đánh dấu sự khác biệt: thánh nhân múc lấy sức mạnh của mình chỉ từ Đức Kitô, Đấng đang sống trong thánh nhân.
Thánh Phao-lô bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành của ngài đối với các tín hữu Phi-líp-phê, bởi vì thánh nhân biết rất rõ cộng đoàn Phi-líp-phê không giàu có gì. Quả thật, trong bức thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô về việc lạc quyên giúp Giáo Hội Giê-ru-sa-lem, chúng ta đọc thấy những lời nầy khi thánh nhân nói về các tín hữu Phi-líp-phê: “Trải qua bao nỗi gian truân, họ vẫn chan chứa niềm vui; giữa cảnh khó nghèo cùng cực, họ trở nên những người giàu lòng quảng đại. Họ tự nguyện theo sức họ, và tôi xin làm chứng là quá sức họ nữa” (2Cr 8: 2-3). Dù không muốn nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất cứ ai, thánh Phao-lô biết rằng những quà tặng của các tín hữu Phi-líp-phê vượt quá con người của ngài. Chúng đẹp lòng Thiên Chúa. Đó thật sự là một sự giàu có tinh thần. Thánh nhân có thể nói với các tín hữu Phi-líp-phê: “Họ đầy công đức vì những việc lành và bố thí họ đã làm”, như thánh Lu-ca nói về bà Ta-bi-tha ở Gia-phô: “Bà này đầy công đức vì những việc lành và bố thí bà đã làm” (Cv 9: 36). Vì thế, họ phải tôn vinh Thiên Chúa.
Trong phần cuối, trước tiên thánh nhân nói về “Thiên Chúa của tôi”, vì Thiên Chúa sẽ thay thánh nhân trả công bội hậu cho những người làm phúc cho thánh nhân; tiếp đó “Thiên Chúa là Cha chúng ta”, vì Thiên Chúa là Cha đầy lòng từ bi nhân hậu sẽ săn sóc các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của thánh nhân.
TIN MỪNG (Mt 22: 1-14).
Dụ ngôn “tiệc cưới” hôm nay cùng với hai dụ ngôn đi trước: “hai người con” và “những tá điền gian ác”, hình thành nên một bức tranh bộ ba theo cùng một chủ đề: vì bất trung với sứ mạng của mình, dân được tuyển chọn sẽ được thay thế bởi lương dân. Tuy nhiên, có một sự tiến triển: Dụ ngôn “tiệc cưới” nhấn mạnh ơn cứu độ phổ quát. Dụ ngôn nầy chứa đựng hai bài học: “tiệc thời Thiên Sai” (22: 1-10) và “tiệc thời Cánh Chung” (22: 11-14), cả hai viễn cảnh nầy rất thường được đặt chồng chéo lên nhau (như trong trường hợp Bài Đọc I).
1. Tiệc thời Thiên Sai (22: 1-10)
Như trong sấm ngôn khải huyền của Bài Đọc I, hình ảnh bàn tiệc gợi ra sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài trong niềm vui cứu độ. Trong dụ ngôn, Đức Vua đại diện Thiên Chúa, Người Con đại diện Đấng Mê-si-a, và tiệc cưới biểu tượng giao ước mới, giao ước vĩnh viễn của Thiên Chúa với nhân loại. Nhưng các quan khách được mời không thèm đếm xỉa tới giao ước mới nầy, đó là dân Ít-ra-en, họ từ chối nhận ra Người Con là Đấng Mê-si-a. Vài khách mời còn đi xa hơn nữa, họ ngược đãi và sát hại các gia nhân của vua, tức là các ngôn sứ thời Cựu Ước và các tông đồ thời Tân Ước.
“Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng”: Thái độ như thế được đặt vào trong bối cảnh Kinh Thánh: những án phạt của Đức Chúa, nhưng dường như ở đây là một trong những lời tiên báo trực tiếp của Đức Giê-su về biến cố đạo quân Rô-ma tàn phá Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công Nguyên. Vài nhà chú giải thấy ở đây không là một lời tiên báo, nhưng lời nhắc nhở về một biến cố đã xảy ra. Tuy nhiên, trong câu chuyện đối chiếu của Lu-ca (14: 15-24), không có chi tiết nầy. Vì thế, người ta có thể nghĩ chi tiết nầy đã được thêm vào Tin Mừng Mát-thêu sau các biến cố nầy.
Các quan khách đã được mời nhưng không đến. Mỗi người đã theo đuổi lợi ích riêng của mình. Họ đã không đáp trả lời mời, từ chối dự phần vào vương quốc thiên sai, hình ảnh của Giáo Hội.
Thành phố bị thiêu hủy, tuy nhiên, tiệc cưới vẫn được tiến hành. Các quan khách từ chối lời mời được thay thế. Lời mời gọi được vang lên khắp các ngã đường: “Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai thì mời hết vào tiệc cưới”. Dụ ngôn nhấn mạnh tính nhưng không của lời mời gọi: Gia nhân liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại”. Như vậy, toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, được mời gọi thế chỗ dân Ít-ra-en bất trung.
Trong cùng một câu chuyện, thánh Lu-ca ghi nhận các đầy tớ ra các ngã đường đến hai lần (Lc 14: 21-24). Trong lần thứ nhất, các đầy tớ mời các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào tham dự tiệc cưới; trong lần thứ hai, tất cả những khách qua đường. Có lẽ thánh Lu-ca đã nghĩ trước hết đến những “người nghèo của Đức Chúa”, những người mà chính Đức Giê-su đã ưu ái đặc biệt; còn họ đã hoan hỉ tiếp đón Tin Mừng và dự phần vào niềm vui thời Thiên Sai, vì thế, họ không thể nào bị loại ra ngoài. Hạng người thứ hai là lương dân, đây là nét tinh tế của thánh Lu-ca khi đề cập đến hạng người nầy.
2. Tiệc thời Cánh Chung (22: 11-14)
Từ tiệc thời Thiên Sai, dụ ngôn chuyển sang tiệc thời Cánh Chung. Vả lại, dụ ngôn ngắn về một khách mời bị loại trừ có thể tự ban đầu đã là một dụ ngôn độc lập. Quả thật, có sự khác biệt đáng kể giữa phần trước và phần tiếp theo nầy. Trong bàn tiệc thời Thiên Sai, mọi người đều được mời tham dự, dù tốt hay xấu, công chính hay tội lỗi, dân Do thái hay dân ngoại. Thật ra, đó không phải là lời mời gọi của Đấng Thiên Sai đặc biệt gởi đến những người tội lỗi hay sao? Trái lại, trong bàn tiệc thời Cánh Chung, nghĩa là trong Nước Trời, người ta chỉ được phép dự tiệc khi mặc y phục của những người công chính. Đức Vua nói: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà không có y phục lễ cưới?”. Trong Tin Mừng Mát-thêu, lời chất vấn nầy luôn luôn hàm chứa sắc thái khiển trách, như ông chủ vườn nho đáp lại lời kêu ca của người thợ làm vườn nho ngay từ sáng sớm: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn” (Mt 20: 13), hay Đức Giê-su nói với ông Giu-đa, kẻ dẫn người đến bắt Ngài: “Nầy bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi” (Mt 26: 50).
Ấy vậy, trong dụ ngôn này, làm thế nào có thể khiển trách người khách nầy không mặc y phục lễ cưới khi anh ta được mời cách bất ngờ từ ngoài đường vào phòng tiệc? Vài nhà chuyên môn giải thích rằng tại vài dân tộc Đông Phương, gia chủ đã tiên liệu vài y phục lễ cưới cho khách mời ở lối vào tiệc cưới. Tuy nhiên, một tập tục như vậy không được chứng thực ở Ít-ra-en. Vì thế, không nên quá coi trọng vài chi tiết nhỏ nhặt của dụ ngôn. Ý nghĩa thì rõ ràng. Người ta không được dự phần vào bàn tiệc Nước Trời nếu như đã không chu toàn những đòi hỏi sứ điệp Tin Mừng.
Câu cuối: “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” rõ ràng không ăn nhập với toàn bộ dụ ngôn trong đó có một số lượng lớn khách mời dự tiệc trong khi chỉ riêng một người bị loại. Đúng hơn lời cuối nầy có liên quan đến phần thứ nhất của dụ ngôn, theo đó có ít người dân Ít-ra-en, dân được tuyển chọn, được dự phần vào bàn tiệc thời Thiên Sai, trong khi so sánh với muôn dân muôn nước hân hoan tiếp đón Tin Mừng và gia nhập Giáo Hội.
22. Lời mời dự tiệc cưới của Chúa--Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng
Tin mừng Mt 22, 1-14: Dụ ngôn này thể hiện những lời Thiên Chúa mời gọi dân được tuyển chọn. Được tuyển chọn nhưng dân Do Thái lại không sẵn sàng đi vào Nước Trời hưởng vinh quang, hạnh phúc với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu. Chính vì thế Thiên Chúa đã thay đổi ý định: dành Nước Trời cho các dân tộc khác.
Tin mừng hôm nay kể cho chúng ta nghe dụ ngôn tiệc cưới. Tất cả nhân loại được mời tham dự tiệc cưới này, có nghĩa là vào Nước Trời mà chính Đức Kitô đã đến thiết lập trên trái đất. Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của nỗi buồn, Ngài là Thiên Chúa của niềm vui và hạnh phúc. Ngài luôn âu yếm mời gọi con người chia sẻ niềm vui với Ngài, trao ban hạnh phúc của Ngài cho nhân loại. Thiên Chúa đã sẵn sàng ; còn bản thân con người thì sao? Có hân hoan, chân thành nhận lời Thiên Chúa hay không? Tất cả tùy thuộc vào thái độ đức tin của mỗi người. Mỗi người có biết bỏ qua những bận tâm, lo toan của cuộc sống, những đam mê dục vọng xác thịt, những quyến rũ của trần gian để tiến vào Nước Trời hay không?
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1. Bài đọc I: Is 25,6-9
Yến tiệc Đấng Messia
Để gợi lên và ca tụng hạnh phúc mà Thiên Chúa tuôn đổ trên các dân tộc vào ngày viên mãn, Tiên tri Isaia đã dùng những hình ảnh rất cụ thể của một bữa tiệc thịnh soạn Thiên Chúa thết đãi muôn dân.
a. Đại yến tiệc được thết đãi trên núi cao với rượu thịt thơm ngon là hình ảnh gợi đến các mối phúc mà những người bạn của Chúa sẽ đón nhận trong Vương quốc của Ngài.
b. Khăn tang, vải liệm bị xé đi, mọi khuôn mặt được Chúa lau sạch nước mắt, mọi tủi hổ sẽ bị cất đi… là những biểu trưng cho chiến thắng của Chúa trên đau khổ và sự chết. Chính Thiên Chúa là Đấng giải phóng muôn dân.
c. Âm hưởng và tâm tình của bản văn giàu chất thi ca mang lại cho người đọc một sự an ủi, một niềm hy vọng, một niềm tin trong đau khổ.
2. Bài đọc II: Pl 4,12-14.19-20
Những lời tạ ơn của Phaolô
Phaolô cảm ơn sự giúp đỡ của cộng đoàn Philipphê đã nâng đỡ ngài trong suốt thời gian bị cầm tù ở Rôma, mặc dầu nhờ sức mạnh của Chúa Giêsu, ngài vẫn có thể vượt qua được.
a. Với Phaolô, những tình cảnh khó khăn người Tông đồ gặp phải là những cơ hội giúp người Tông đồ học biết cuộc sống, học biết chịu đựng.
b. Có thể làm được mọi sự, chịu đựng được mọi hoàn cảnh là nhờ gắn bó với Chúa Giêsu. Trong Người là Đấng ban sức mạnh, chúng ta có thể làm được mọi sự.
c. Tuy dựa vào sức mạnh của Chúa Giêsu Kitô, nhưng Phaolô vẫn quí trọng và biết ơn anh chị em giáo đoàn Philipphê đã yêu thương chăm lo cho ngài. Họ đã hành động chí lý khi chia sẻ nỗi quẫn bách của ngài.
3. Tin mừng: Mt 22,1-14
Dụ ngôn tiệc cưới
Dụ ngôn này thể hiện những lời Thiên Chúa mời gọi dân được tuyển chọn. Được tuyển chọn nhưng dân Do Thái lại không sẵn sàng đi vào Nước Trời hưởng vinh quang, hạnh phúc với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu. Chính vì thế Thiên Chúa đã thay đổi ý định: dành Nước Trời cho các dân tộc khác.
a. Cùng với dụ ngôn tá điền sát nhân (Mt 21,33-43), dụ ngôn tiệc cưới trình bày những khía cạnh khác nhau về mầu nhiệm Nước Trời. Sự tương đồng giữa ông chủ vườn nho và nhà vua ; hình ảnh người con trong cả hai dụ ngôn ; chi tiết các gia nhân đều bị ngược đãi, sát hại cho thấy hướng đi rõ rệt của tác giả Tin mừng. Chủ vườn nho và ông vua là nói về Chúa Cha. Người Con là chính Chúa Giêsu và gia nhân là các Tiên tri. Còn những người được mời là dân bất trung.
b. Hình ảnh bữa tiệc cưới, chắc chắn được vay mượn từ Cựu ước nơi Is 25,6 ; 55,1-3, diễn tả tính cách ban không của ơn cứu độ. Thật là một hồng ân khi được Thiên Chúa mời gọi vào tham dự hạnh phúc, sự sống và tình yêu Nước Trời.
c. Hình ảnh tiệc cưới là hình ảnh của niềm vui, người được mời dự tiệc cưới hoàng tử là cả một vinh dự. Vậy mà những người được mời lại từ chối, thậm chí còn tệ hại hơn khi bách hại giết chết cả những gia nhân đi mời khách. Họ dứt khoát từ chối, theo Matthêu đó là một sự thờ ơ, một thái độ hờ hững xem thường Thiên Chúa, khiến Thiên Chúa phải nổi giận và làm cho người được mời trở nên không xứng đáng dự tiệc cưới, họ sẽ bị loại trừ. Và thay cho họ là tất cả mọi hạng người không phân biệt tốt xấu. Ơn cứu độ của Chúa sẽ cất khỏi dân Do Thái để ban cho mọi dân tộc khác.
II. GỢI Ý BÀI GIẢNG
1. Dụ ngôn tiệc cưới mạc khải tính phổ quát của ơn cứu độ:
Nhà vua tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử ; theo lẽ thường tình, được mời quả là một vinh hạnh lớn lao, người ta chắc hẳn sẽ không thể bỏ qua cơ hội này để thăng tiến trên đường danh vọng. Nhưng trong dụ ngôn thì lại trái ngược hẳn, người được mời thờ ơ với lời mời, thậm chí còn khó chịu và bách hại hay giết chết những sứ giả vua sai đi mời. Phải chăng đây là ông vua bị thất sủng? Phải chăng khách được mời muốn làm một cuộc lật đổ? Những vấn đề đặt ra không có ý nghĩa gì vì khi trình bày dụ ngôn này Chúa Giêsu muốn trình bày một mầu nhiệm tôn giáo, một vấn đề đức tin. Ơn cứu độ của Thiên Chúa được dành cho mọi người, mọi dân tộc. Điểm trọng tâm của dụ ngôn chính là việc sau khi khách được mời từ chối dự tiệc, nhà vua liền sai người đi khắp mọi nẻo đường, mời bất cứ ai, bất luận tốt xấu. Cách diễn tả này chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương hết thảy mọi người, Ngài mời mà không lựa chọn, không đòi hỏi, để tất cả đều có cơ hội đi vào Nước Trời. Những người được mời gọi là những lớp người của mọi dân tộc qua mọi thời, ở khắp nơi trong cuộc sống trần gian này. Ngài mời gọi người lương thiện cũng như kẻ bất lương ; với người công chính cũng như người tội lỗi. Vào Nước Trời không tùy thuộc nòi giống hay văn hóa, nhưng căn cứ vào sự trở lại, hoán cải canh tân đời sống và biết vui vẻ đón nhận ý Chúa.
Giáo hội chính là nơi qui tụ mọi người đến dự bàn tiệc Thiên Quốc. Giáo hội nhất định không phải là nơi qui tụ những con người thập toàn, những con người ưu tú. Nhưng là nơi đón nhận mọi hạng người, để rồi nhờ ơn Chúa cứu độ sẽ biến đổi tất cả nên những con người xứng đáng đi vào hưởng hạnh phúc, vinh quang và sự sống của Thiên Chúa.
2. Từ việc được mời dự tiệc cưới đến việc tham dự, một biểu lộ của tình yêu:
Người Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài để chuẩn bị ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, nhưng họ đã từ chối đặc ân dành cho họ. Hình ảnh những người được mời dự tiệc trong dụ ngôn ám chỉ trực tiếp đến họ, những người dân Israel. Vấn đề ở đây chính là sự thờ ơ, không đếm xỉa gì đến lời mời gọi dự tiệc cưới: người thì đi thăm trại, kẻ thì đi buôn, người khác thì bắt đầy tớ nhục mạ và giết đi… Người ta có thái độ thờ ơ, lãnh đạm và coi thường như thế bởi vì họ không yêu Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa. Nếu yêu thương, tôn trọng người chủ tiệc thì chắc chắn cho dù có vướng bận đến đâu người ta cũng sẵn sàng sắp xếp công việc, thời gian để đi dự tiệc. Được mời là một vinh dự, là một sự quí mến được đón nhận từ người mời, nhưng đáp lời mời tham dự là biểu lộ tình cảm của bản thân dành cho gia chủ. Cũng thế, Thiên Chúa mời gọi con người vào hưởng hạnh phúc Nước Trời là nói lên tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, còn đáp lời mời này để hân hoan tiến vào Nước Chúa là lời đáp trả tình yêu của con người dành cho Thiên Chúa.
Được mời và đón nhận lời mời là một biểu lộ của tình yêu từ hai phía Thiên Chúa và con người dành cho nhau. Thế nhưng, trong cuộc sống Kitô hữu ngày hôm nay, thái độ từ chối Thiên Chúa, thờ ơ với lời mời gọi của Ngài vẫn còn tiếp diễn nơi nhiều người. Người ta nại vào rất nhiều lý do từ công ăn việc làm đến những lý do bận bịu với những sinh họat xã hội để từ chối cầu nguyện, từ chối tham dự thánh lễ. Người ta nại đến nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khó khăn để từ chối gặp gỡ, đón nhận Chúa qua anh chị em chung quanh, để khước từ sống giới răn yêu thương của Chúa. Kitô hữu cần phải xét mình lại thái độ của bản thân mình trước những lời mời gọi dấn thân vì Nước Trời, vì tha nhân của Chúa.
Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể:
Thánh lễ chính là tiệc cưới Nước Trời mà Thiên Chúa thết đãi chúng ta, cho chúng ta hưởng nếm trước hạnh phúc, vinh quang và sự sống thần linh. Vậy chúng ta hãy dẹp bỏ đi mọi lo toan của công việc, mọi vướng bận của cuộc sống đời thường, hân hoan tiến đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Sau khi đã vui hưởng tiệc Thánh của Chúa, chắc chắn mỗi người sẽ thêm nghị lực, thêm niềm tin, thêm tình yêu để gánh vác cuộc sống mình ngày càng tốt hơn.
23. Nếu cuộc sống thiếu tình yêu?--‘Cùng Nhau Suy Niệm’--Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Ở đời có yêu nhau người ta mới dám hy sinh dành thời giờ cho nhau, mới hy sinh làm vui lòng nhau. Có yêu nhau người ta mới chẳng quản ngại ngăn sông cách núi để "Tam tứ núi cũng trèo - Thất bát sông cũng lội, thập cửu đèo cũng qua". Ngược lại nếu không có tình yêu thì cuộc đời sẽ không có hy sinh và càng không cần làm vui lòng nhau. Phải chăng đó cũng là lối cư xử thiếu tình yêu của con người đối với Thiên Chúa mà bài tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đề cập đến? Phải chăng lời Chúa hôm nay là bức tranh tương phản giữa tình yêu quảng đại của Thiên Chúa và thái độ vô ơn, bất kính của con người?
Thiên Chúa là chủ tiệc. Thiên Chúa thiết đãi một bữa tiệc chứa chan hạnh phúc cho con người. Nhưng tiếc thay, con người đã từ chối lòng tốt của Thiên Chúa. Ngay từ đầu trong vườn địa đàng, Adam đã từ chối chung bàn với Thiên Chúa. Ông muốn loại trừ Thiên Chúa. Ông muốn bước đi theo lối đi của ông. Một lối đi theo ý mình. Một lối đi không có Thiên Chúa. Hậu quả là đau khổ và sự chết đã đi vào kiếp người. Cũng từ đây tình yêu của Thiên Chúa theo đuổi con người suốt dọc dài lịch sử ơn cứu độ. Thiên Chúa vẫn tiếp tục kiên nhẫn mời gọi, dẫn dắt con người trở về trong sự hiệp nhất với Ngài. Các tiên tri và Chúa Giêsu đều dùng hình ảnh bữa tiệc để nói về niềm vui của sự xum vầy bên Chúa và bên nhau trong hoan lạc hạnh phúc.
Thế nhưng, cho thì nhiều mà đáp trả chẳng bao nhiêu. Con người qua mọi thời đại vẫn tìm nhiều cách để khước từ lời mời gọi đầy yêu thương của Chúa. Nhiều người vẫn đang tìm cho mình một lối đi không có Thiên Chúa. Họ muốn tự hành xử theo ý mình và bắt người khác theo ý mình. Một thế giới không có Thiên Chúa chỉ dẫn đến chiến tranh hận thù, nghị kỵ và kết án lẫn nhau. Một thế giới không có Thiên Chúa sẽ dẫn đến một nhân loại gồm toàn những người quá đề cao cái tôi đến nỗi chẳng ai chịu nghe ai. Đó là kinh nghiệm đắng cay nhưng đáng tiếc, chẳng mấy ai chịu sửa sai!
Có nhiều người hôm nay nhân danh đạo tại tâm để từ chối việc đến nhà thờ, ngay cả thánh lễ Chúa nhật họ vẫn dửng dưng xem thường. Họ cho rằng đạo tại tâm là không cần biểu lộ ra bên ngoài nhưng họ quên rằng cái tâm đó phải thể hiện ra bên ngoài bằng thái độ giữ đạo chân thành, không giả dối, không khoe trương. Đây là điều mà Chúa Giêsu đã từng nói: "nghe và thực hành Lời Chúa" mới là điều quan trọng. Và chính Chúa thêm rằng: "Ai xưng mình là môn đệ của Thầy trước mặt người đời, thì Thầy mới xưng nó trước mặt Cha Thầy".
Có nhiều người viện lý do ghét người này người nọ để từ chối việc đến nhà thờ. Họ cho rằng "tin đạo nhưng không tin người có đạo". Điều đó có thể đúng, nhưng không thể "vơ đũa cả nắm" càng không thể "đánh lận con đen", Đạo và người có đạo như nhau. Đạo là đường. Người có đạo đang đi trên con đường đó. Đường ta ta đi. Tại sao vì một vài người mà mình lại bỏ đạo? Tại sao ta không tiếp tục đi để nâng đỡ anh em đang vấp té trên đường? Tại sao ta không trở thành bạn đồng hành để giúp anh em sai lỗi biết sống và thực hành đạo? Xem ra đó chỉ là nguỵ biện cho thái độ từ chối thông hiệp với Thiên Chúa của chính mình!
Bên cạnh những người bỏ đạo còn có những người lấp lửng nửa vời. Họ nại vào lý do "có thực mới vực được đạo". Họ không đi lễ vì phải lo kế sinh nhau. Lo đồng tiền bát gạo trước, rồi khi rãnh mới tranh thủ đi lễ. Họ là những người thờ thần tài trên cả Thiên Chúa. Họ say mê tìm kiếm của cải trần gian mau qua, mà lãng quên giá trị vĩnh cửu là Nước Trời. Họ là những người sống theo chủ nghĩa thực dụng. Cái gì có lợi trước mắt là làm ngay. Họ quên rằng: mọi sự thế gian này sẽ qua đi, và những gì họ đã một đời bán mạng để tìm kiếm cũng thuộc về người khác. Công việc tìm kiếm danh vọng của họ chỉ là "dã tràng xe cát biển đông".
Hình ảnh vị khách đã không mặc áo "xứng kỳ đức" có thể là chính chúng ta. Những người mang danh ky-tô hữu nhưng không có nếp sống phù hợp với tư cách của người môn đệ Chúa. Chúng ta vẫn khoác trên mình biết bao thói hư tật xấu, biết bao những đam mê lầm lạc. Chúng ta chưa dám mặc lấy Đức Ky-tô. Chúng ta không dám sống như lời thánh Phaolo đã từng nói: "Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Ky-tô sống trong tôi". Vì thế, cuộc đời chúng ta vẫn đầy những lầm lạc, gian dối và tội lỗi.
Phải chăng, bài dụ ngôn này là lời nhắc nhở chúng ta hãy chỉnh đốn lại lối sống cho phù hợp với tình yêu của Thiên Chúa? Hãy nhìn lại tương quan của mình với Thiên Chúa cho đúng, để có cách sống cho phù hợp. Chúng ta là thụ tạo hãy biết lệ thuộc vào Đấng tạo hoá. Chúng ta là tôi tớ hãy sống theo ý của chủ. Chúng ta là môn đệ của Chúa hãy từ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới. Con người của ân sủng không bị lệ thuộc vào những đam mê thấp hèn làm mờ lương tri. Chúng ta là con Chúa hãy sống thông hiệp với Chúa và với nhau để xây dựng một thế giới hiệp nhất, yêu thương, thắm đượm tình Chúa tình người.
Ước gì chúng ta luôn biết chọn Chúa làm gia nghiệp thay cho những phù vân ở đời mau qua. Ước gì chúng ta luôn trân trọng tình Chúa để dám dành thời giờ cho Chúa hơn là lao mình vào những danh vọng trần gian. Xin Chúa giúp chúng ta gìn giữ nét đẹp của phẩm giá con người bằng chiếc áo ân sủng của Chúa luôn gìn giữ chúng ta trong sạch và tinh tuyền. Amen.
24. Ăn Bánh Trường Sinh--Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Năm 2005, Hội Đồng Giám Mục Anh đã cho phát hành bản báo cáo dài 90 trang do Đức Giám Mục John Hine soạn thảo trên cơ sở một cuộc điều tra kéo dài hơn một năm. Với hơn 15,000 gia đình Công Giáo về một vấn đề duy nhất là tại sao người ta không đi nhà thờ ngày Chúa Nhật.
Qua điều tra người ta nhận định rằng: 1/ chủ nghĩa vật chất, 2/ tình trạng tài chính khó khăn, và 3/ lề lối làm việc hiện đại là ba yếu tố chính đẩy đưa người ta đến chỗ bỏ lễ ngày Chúa Nhật.
Ở thời đại hôm nay người ta bỏ lễ ngày Chúa nhật rất dễ dàng. Người ta viện vào nhiều lý do để hợp thức hóa cho việc bỏ lễ. Họ cho rằng cuộc sống luôn phải làm việc vất vả để kiếm ăn. Họ còn phải chạy đua theo những tiện nghi vật chất. Cuộc sống quá vất vả, căng thăng vì cơm áo gạo tiền khiến người ta quá mệt sau một tuần vật lộn với cuộc sống. Tâm trí không thảnh thơi. Thân xác thì mệt mỏi khiến họ chỉ muốn tìm giây phút thư giãn qua việc giải trí, mua sắm...
Tệ hơn nữa là nhiều người vẫn coi nhẹ việc tham dự thánh lễ. Thánh lễ không phải là việc tối quan trọng. Thánh lễ chỉ là tùy phụ rảnh thì đi, bận thì thôi. Hay tệ hơn nữa, là lạm dụng lòng thương xót Chúa, bỏ lễ rồi xưng tội là xong!
Ở miền quê chúng tôi chỉ cần một cơn mưa nho nhỏ cũng khiến người tham dự thánh lễ vơi đi. Xem ra chỉ cần một khó khăn nho nhỏ cũng là lý do để họ bỏ lễ.
Chúa Giêsu ví Nước Trời là một bữa tiệc. Thiên Chúa mời mọi người vui lòng đến dự bữa tiệc do Ngài thiết đãi. Thế nhưng người ta nại vào nhiều lý do để không tới dự tiệc. Đa phần cũng chỉ vì công việc, vì nhu cầu vật chất, vì cuộc sống bận rộn khiến họ chú tâm vào cuộc sống phần xác mà quên dành thời giờ cho phần hồn. Họ khước từ vì họ còn mải mê với nhu cầu vật chất trần gian.
Bữa tiệc Nước Trời chính là bữa tiệc cánh chung. Đó là bữa tiệc Thiên Chúa khoản đãi cho tất cả những ai đón nhận lời mời của Ngài. Thiên Chúa mời gọi không phân biệt chủng tộc, màu da. Ngài hân hoan chào đón mọi thành phần vào tham dự bữa tiệc. Tuy nhiên, để được dự tiệc Ngài cũng đòi hỏi mỗi người phải khoác chiếc áo dự tiệc. Chiếc áo thể hiện lòng kính trọng với chủ tiệc. Chiếc áo mà Ngài đã trao cho mỗi người khi chấp nhận lời mời bước vào bữa tiệc cánh chung. Đó chính là chiếc áo trắng trong ngày rửa tội. Chiếc áo của ân sủng. Chiếc áo tinh tuyền không tì vết tội lỗi.
Nhưng đáng tiếc, có người đã đánh mất chiếc áo. Có người đã làm bẩn chiếc áo. Có người đã để chiếc áo nhàu nát, rách rưới. Có người đã bỏ lại chiếc áo ân sủng mà khoác trên mình chiếc áo của tính hư nết xấu. Họ đã thiếu y phục cần có khi dự tiệc. Nhìn lại mình nhơ nhớp tội nên không dám bước vào bữa tiệc cánh chung vì không còn xứng đáng với ân huệ của Thiên Chúa.
Bữa tiệc Nước Trời hôm nay còn là bàn tiệc Thánh Thể mà Chúa mời gọi chúng ta hãy đến tham dự. Chính Chúa thiết đãi chúng ta của ăn không bao giờ hư nát chính là bánh trường sinh, vì Ngài đã nói: “Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời”. Bánh Thánh Thể của Chúa luôn dành cho mọi người. Không phân biệt màu da sắc tộc. Chúa muốn mọi người đều được quy tụ bên nhau quanh bàn tiệc Thánh Thể. Chúa muốn qua bữa tiệc Thánh Thể này sẽ bảo đảm cho con người sự sống đời đời.
Đó là lý do mà Chúa muốn không trừ một ai mà không đến tham dự bữa tiệc. Ai cũng muốn trường sinh, thì đây là cơ hội để chúng ta sống chính sức sống phục sinh của Chúa. Chúng ta được bồi dưỡng bằng của ăn không hư nát trên hành trình về miền Đất Trường Sinh.
Ước gì chúng ta luôn biết ưu tiên dành thời giờ cho việc tham dự thánh lễ để được rước Thánh Thể Chúa là bánh thánh trường sinh. Ước gì chúng ta luôn biết chuẩn bị lòng mình cho xứng đáng tham dự bàn tiệc thánh. Xin gìn giữ chiếc áo ân sủng hầu xứng đáng tham dự bàn tiệc thánh. Amen.
25. Bữa tiệc của vua Trời--Lm. Ignatiô Trần Ngà
Dụ ngôn nhà vua mở tiệc đãi khách được trích đọc hôm nay gợi lại cho chúng ta một bữa tiệc khác trọng đại hơn rất nhiều. Đó là tiệc Thánh thể.
Thánh lễ là một bữa tiệc thật nhiệm mầu. Bữa tiệc này vô cùng cao quý vì cung cấp cho khách mời thực phẩm đem lại sự sống đời đời, chứ không như tiệc trần gian, dù có ăn bao nhiêu rồi cũng phải chết.
Bữa tiệc này có hai món đặc biệt: thứ nhất là Lời Chúa và thứ hai là Mình Máu thánh Chúa.
Món thứ nhất: Lời Chúa.
Có thể gọi đây là đặc sản của thiên đàng.
Đây là kho tàng khôn ngoan của Thiên Chúa, được Chúa Giê-su mang từ trời xuống ban phát cho thế gian. Đây là Lời hằng sống, là lương thực thiêng liêng mang lại an vui đời này và hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. Không có thứ lương thực nào trên thế gian có thể sánh ví được.
Nhờ hấp thụ lương thực thiêng liêng này, nhiều người trên thế giới trải qua các thời đại được trở nên tốt lành, thánh thiện, đạo đức, nhân hậu, bao dung, quảng đại, sẵn sàng hiến dâng thân mình phục sự Thiên Chúa và phục vụ mọi người, điển hình là các thánh nam nữ đang được Giáo hội tôn vinh.
Món thứ hai là lương thực nhiệm mầu mà ngay cả các thiên thần cũng không được thưởng thức, đó là Mình Máu thánh Chúa Giê-su. Nhờ lương thực thiêng liêng và thần diệu này, các tín hữu được lãnh nhận nhiều hồng phúc vô cùng cao quý. Cụ thể là khi rước Chúa vào lòng, chúng ta nhận được hai hồng ân vô giá:
- Một là được kết hợp nên một với Chúa Giê-su, tan hòa vào Chúa Giê-su như ao nước nhỏ hòa chung với đại dương bao la. Nhờ đó, Chúa với ta không còn là hai nhưng chỉ là một, như lời Chúa phán: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở trong tôi và tôi ở trong người ấy” (Ga 6, 56).
Người phàm hèn mọn mà được nên một với Chúa, ở trong Chúa, cùng chung huyết nhục với Chúa Giê-su thì thật là nhiệm mầu và vô cùng diễm phúc!
- Hai là được sống đời đời với Chúa Giê-su.
Một khi đã được hòa chung nên một với Chúa Giê-su, thì sự sống thần linh, sự sống tuyệt vời, sự sống muôn đời của Chúa Giê-su sẽ được thông truyền qua cho chúng ta, y như sự sống toàn thân chuyển qua cho từng chi thể nhỏ. Thế là ta được mang sự sống đời đời của Chúa Giê-su trong thân xác mình; thế là ta sẽ được chung hưởng hạnh phúc thiên đàng với Chúa trên thiên quốc, như lời Ngài phán: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời” (Ga 6, 54).
Thế rồi, Chúa Giê-su tha thiết kêu mời mọi người từ muôn phương đến dự bàn tiệc cao quý Ngài thiết đãi.
Tiếc thay,
Nhiều người thích nghe những chuyện tào lao mà không muốn nghe những điều khôn ngoan đích thực.
Người ta khao khát của cải vật chất mà không quan tâm đến những giá trị tinh thần.
Người ta tìm kiếm lương thực giúp sống qua ngày mà chẳng thiết gì lương thực mang lại sự sống vĩnh hằng mai sau.
Vì thế, họ không màng gì đến tiệc thánh của Chúa Giê-su!
Thế là Chúa Giê-su, Người chủ tiệc, bị bẽ mặt, buồn phiền và cảm thấy bị xúc phạm.
Lạy Chúa Giêsu,
Nếu Chúa khoản đãi những bữa ăn chỉ giúp người ta sống qua ngày và kêu mời khách tứ phương đến tham dự thì phòng tiệc sẽ chật ních người và ngày nào thiên hạ cũng chen chúc tìm đến.
Tuy nhiên, khi Chúa dọn tiệc thánh, tiệc thần linh để cho những ai hưởng dùng thì được hấp thụ sự khôn ngoan đích thực bởi trời và được sống đời đời hạnh phúc với Chúa thì chỉ có ít người tham gia.
Xin cho chúng con biết quý trọng lương thực trường sinh hơn là thức ăn hư nát đời này, đừng viện đủ lý do để từ chối bữa tiệc của Chúa, nhưng thường xuyên đến tham dự tiệc thánh để được hưởng muôn vàn phúc lộc. Amen.
26. Mặc lấy Chúa Kitô--Lm. Ignatiô Trần Ngà
Trong một trăm người đang sống trên lục địa Á châu, chỉ có hai người gia nhập Hội Thánh Chúa. Hạnh phúc cho ai được liệt vào số ít những người may mắn nầy. Trong số một trăm người đang sống trên giải đất Việt Nam, chỉ có bảy người có diễm phúc tham dự tiệc cưới vua trời, tức được gia nhập vào Hội Thánh Chúa. Chúng ta cũng được may mắn thuộc về thiểu số nầy. Đây quả là một hồng phúc lớn lao cho chúng ta.
Để xứng hợp với tư cách của vị khách được Thiên Chúa ưu ái mời vào dự tiệc Nước Trời, Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải vứt bỏ tấm áo dơ bẩn đang mặc để khoác vào mình y phục xứng đáng.
Khi mặc đồ tang chế mà đi dự tiệc cưới, người ta nghĩ là bạn bị khùng nặng và xua đuổi bạn tức khắc. Khi bước vào bệ kiến Đức Vua mà trang phục lôi thôi lếch thếch, nói năng hồ đồ lỗ mãng thì không khỏi bị kết tội khi quân. Khi bước vào đời quân ngũ mà ăn mặc rách rưới như kẻ bần cùng, thiếu tác phong quân nhân, thì bạn sẽ bị tống cổ ra ngay vì làm ô danh quân đội.
Hội Thánh của Chúa luôn mở rộng cửa để tiếp nhận tất cả mọi người từ khắp tứ phương thiên hạ bất kể sang hèn tốt xấu. Nhưng một khi đã gia nhập đại gia đình nầy, các thành viên phải cởi bỏ tấm áo xấu xa để khoác lên người trang phục xứng đáng, nghĩa là phải có những phẩm chất phù hợp với Tin Mừng.
Một con sâu tuy nhỏ nhưng cũng đủ để làm rầu nồi canh. Vài ba giọt mực tuy không nhiều nhưng cũng đủ để làm hư tấm vải trắng. Chỉ một ít tín hữu sống trái nghịch với Tin Mừng và giáo huấn Hội Thánh, cũng đủ để làm cho khuôn mặt của Giáo Hội trở nên khó thương trước mặt người khác.
Vì thế nên một khi đã gia nhập Hội Thánh mà cách ăn thói ở không phù hợp thì đương sự sẽ bị Thiên Chúa lên án nặng nề. Đoạn Tin Mừng sau đây nhắc nhở chúng ta điều đó.
"Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?" Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch: "Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng."
Là người được Thiên Chúa mời gọi gia nhập vương quốc Thiên Chúa, chúng ta phải xem lại cách ăn thói ở của chúng ta sao cho thích đáng.
Xưa kia, Augustinô ban đầu theo đuổi phù du ảo ảnh của thế gian, nhưng đến năm 33 tuổi, lần đầu tiên con người lầm lạc nầy tiếp cận với kinh thánh và đoạn văn đầu tiên đập vào mắt Anh là lời dạy của thánh Phaolô trong thư Rô-ma như sau: "Như giữa ban ngày, anh em hãy sống đoan trang tiết độ, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đảng, không kình địch ghen tương; nhưng hãy mặc lấy Đức Giêsu Kitô và đừng lo tìm thoả mãn những đam mê xác thịt." (Rm 13, 13-14).
Nhờ ơn Thánh Linh tác động, Augustinô bừng tỉnh trước Lời Chúa. Anh cảm thấy những câu Lời Chúa nầy như nói riêng với chính mình. Thế là từ đây, Augustinô từ bỏ quãng đời tội lỗi, từ bỏ những đam mê xác thịt, rũ bỏ bộ áo bẩn thỉu hôi hám để mặc áo mới, mặc lấy Đức Giêsu Kitô. Anh được lãnh bí tích rửa tội vào năm 33 tuổi, hiến mình cho Chúa và ba năm sau, trở thành một linh mục thánh thiện, về sau được cất nhắc lên chức giám mục và trở thành vị thánh chói ngời đồng thời cũng là thầy dạy trong Giáo Hội với tước hiệu tiến sĩ Hội Thánh.
Trong ngày lãnh bí tích rửa tội, ngày chúng ta chính thức gia nhập Hội Thánh, linh mục chủ sự thay mặt Hội Thánh trao cho chúng ta tấm áo trắng với lời kêu gọi: "Con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Chúa Kitô. Vậy con hãy nhận chiếc áo trắng nầy, hãy mang lấy và giữ nó tinh tuyền cho đến khi ra trước toà Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để con được sống muôn đời".
Xin cùng khẩn cầu Thiên Chúa giúp chúng ta đừng luyến tiếc áo cũ đã hoen ố vì vô vàn thói xấu tật hư. Hãy dứt khoát cởi bỏ nó để quyết tâm mặc lấy áo mới, mặc lấy Đức Kitô, mang những tâm tình cao đẹp như Chúa Giêsu, cư xử ôn hoà nhân ái như Chúa Giêsu, biết thứ tha, yêu thương và phục vụ như Chúa Giêsu; Nhờ đó, chúng ta sẽ được cùng với Chúa dự tiệc vui muôn đời.
27. Tiệc cưới, áo cưới--‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’--Radio Veritas Asia
Dụ ngôn tiệc cưới và chiếc áo cưới trong Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta mặc lấy một trong những tâm tình cơ bản nhất của Kitô giáo, đó là hân hoan, vui mừng. Kitô giáo thiết yếu là đạo của Tin Mừng.
Trong rất nhiều sinh hoạt và hình ảnh của cuộc sống, Chúa Giêsu đã chọn bữa ăn như dấu chỉ ưu việt nhất để rao giảng Tin Mừng của Ngài. Nước Trời giống như một tiệc cưới, đây là một trong những hình ảnh được Chúa Giêsu sử dụng nhiều nhất để nói lên niềm vui của Nước Trời. Chúa Giêsu cũng mặc cho bữa tiệc của Ngài một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt. Chúng ta chỉ cần nhớ lại tiệc cưới Cana, trong đó Chúa Giêsu đã biến nước thành rượu để khách dự tiệc được tiếp tục cuộc vui. Ngài dự tiệc do Lêvi, do Zakêu và rất nhiều người thu thuế khoản đãi; Ngài đồng bàn với họ, chia sẻ một tấm bánh và uống một chén rượu với họ.
Không những đồng bàn với những người tội lỗi, Chúa Giêsu cũng không từ chối lời mời của những người Biệt phái, những người giàu có. Ngài chia sẻ bữa ăn thân thiết với gia đình Marta, Maria và Lazarô tại Bêtania. Ngài thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ. Sau khi sống lại, Ngài ngồi đồng bàn với hai môn đệ trên đường Emmau. Ngài hiện ra trên bờ hồ và chuẩn bị bữa ăn cho các môn đệ, rồi Ngài cùng ăn cùng uống với các ông.
Bữa ăn là nơi thể hiện của những giá trị cao quí nhất trong cuộc sống của con người, như gặp gỡ, hiệp thông, trao ban, chia sẻ, hân hoan. Chính vì ý nghĩa cao quí ấy, Chúa Giêsu đã mượn hình ảnh bữa tiệc để nói lên những thực tại Nước Trời. Đến đây, chúng ta hiểu được ý nghĩa của hình ảnh chiếc áo cưới mà thực khách phải mặc vào khi dự tiệc cưới. Chiếc áo cưới ấy chính là tâm tình gặp gỡ, chia sẻ, trao ban, hân hoan mà con người phải mặc lấy để thuộc về Nước Trời.
Có người đã tưởng tượng ra Thiên đàng, hỏa ngục như hai bàn tiệc. Bàn tiệc dưới hỏa ngục cũng mâm cao cỗ đầy, thế nhưng khách dự tiệc thì ngồi ủ rũ buồn thiu, bởi vì mỗi người đều cầm trong tay một đôi đũa dài đến độ thức ăn thì gắp được, nhưng không thể đưa thức ăn vào miệng. Bàn tiệc trên Thiên đàng cũng y hệt, nhưng khác một điều, là thay vì gắp thức ăn cho vào miệng mình, người ta lại gắp thức ăn và đưa vào miệng người đối diện, thế là vui vẻ cả, vì ai cũng được ăn uống no nê.
Ước gì niềm vui bàn tiệc thánh mà chúng ta tham dự cũng được tiếp tục thể hiện trong đời thường của chúng ta. Ước gì cả cuộc sống chúng ta luôn được diễn ra trong gặp gỡ, chia sẻ, trao ban, vui tươi, nhờ đó chúng ta cảm nhận được niềm vui đích thực của Nước Trời và thắng vượt được mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống.
28. Y phục tiệc cưới--Barbara E. Reid – Văn Hào, SDB chuyển ngữ
“Mọi sự đã sẵn sàng, xin mời đến dự tiệc”. (Mt 22,4).
Tuần vừa qua tôi nhận được hai lá thư. Lá thứ nhất do một người giàu sang quý tộc gửi đến qua đường bưu điện. Bức thư được gửi đi một cách trọng thị, với phong bì dán kín, được trang trí kiểu cách, và có dấu bảo đảm của bưu điện. Lá thứ hai được gửi qua đường email, gửi cho tôi cũng như cho nhiều người khác cùng lúc. Nội dung lá thư thứ hai này nói với người nhận hãy chuyển sứ điệp cho nhiều người khác nữa, càng nhiều càng tốt, không cần họ trả lời. Kẻ gửi thư email này, giống như một người xóc đĩa, cứ xóc đại, trúng ai thì trúng.
Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, ông vua sắp tổ chức tiệc cưới cho đứa con trai, dường như đã gửi thư mời theo cả hai dạng thức này. Những người đầu tiên được mời rất trang trọng, nhưng họ lạnh lùng từ chối, cho dù các gia nhân đã đi mời họ đến hai lần. Nhà vua sau đó truyền lệnh cho các gia nhân ra khắp các nẻo đường phố xá, mời tất cả những ai họ gặp để đến cho đầy nhà, bất kể người tốt lẫn kẻ xấu. Và cuối cùng, phòng tiệc đã chật kín người.
Trong mạch văn của Tin mừng Matthêu, dụ ngôn dường như không phân định sự khác biệt giữa hai nhóm người được mời. Thánh ký cũng chẳng đá động gì tới những người được mời thuộc tầng lớp xã hội nào, có khi chỉ là những người nghèo kiết xác, thậm chí bị què quặt hay đui mù như trong trình thuật của Luca (Lc 14,15-24). Matthêu cũng không để ý đến sự kiếu từ mà nhóm thứ nhất đưa ra, xem lý do của họ có chính đáng hay không. Hơn nữa, thánh ký cũng chẳng cần điều tra lý lịch những người ở nhóm thứ hai, xem họ thuộc giai tầng nào, và đặt điều kiện ra sao đối với họ. Thay vào đó, Matthêu chỉ nhấn mạnh đến tính cách đại trà không cần tính toán nơi lời mời, và sự kỳ vọng duy nhất của đức vua đặt để nơi những người được mời, là mong họ chấp nhận.
Đây là dụ ngôn thứ ba trong một loạt những dụ ngôn nhắm đến các lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu. Họ là những người đầu tiên đã được Thiên Chúa gọi mời, và Ngài hy vọng họ sẽ chấp thuận lời mời trọng thị đó, ngang qua Đức Giêsu. Tuy nhiên đây không phải là những nhân vật đã mau mắn sẵn sàng đáp trả, và đến để ngồi vào bàn tiệc. Đức Giêsu, qua hình tượng Người Nữ Khôn ngoan mà sách châm ngôn trong cựu ước nói tới, “đã lên các nơi cao trên thành phố (Cn 9,3) mời gọi mọi người: Hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (Cn 9,6).
Tuy nhiên, có một điều kiện khá giản đơn được đặt ra, là khi đến tham dự bữa tiệc, người ta phải “mặc” y phục chỉnh tề. Trong các lá thư của Thánh Phaolô, chúng ta thường thấy hạn từ “mặc lấy” mang một ý nghĩa biểu trưng, nói về chính cách sống của người Kitô hữu. Ngài nhắn nhủ giáo đoàn Colossê “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Anh em hãy mặc lấy lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại” (Col 3,12; xem Rm 13,14; Gal 3,37). Cũng tương tự, Thánh Matthêu muốn khách dự tiệc cưới phải mặc y phục. Những việc làm tốt lành và thái độ đức tin, chính là biểu thị cụ thể của y phục lễ cưới. Thực khách phải “mặc vào” để có thể xứng đáng ngồi vào bàn. Những cách sống cụ thể như thế sẽ rất cần thiết, chứ không phải chỉ có thái độ hình thức xuông bề ngoài mà thôi.
Câu văn trong Tin mừng Matthêu hôm nay đổi hướng từ hình thái dụ ngôn, dường như chuyển sang hình thức ám dụ, để nói về lịch sử ơn cứu độ. Trong khi đức vua đã quảng đại và hào phóng vượt bậc khi mở phòng tiệc, là một hình ảnh tương thích với lời mời của Thiên Chúa ngang qua Đức Giêsu, thì sự truy diệt không thương tiếc của nhà vua đối với những kẻ đã giết các đầy tớ và việc đốt phá các làng mạc của họ, chắc chắn không biểu thị về cách hành xử của Thiên Chúa. Tội ác của họ đã rõ ràng, cụ thể là sát hại các gia nhân, như trường hợp đã xảy ra khi Herôđê ra lệnh chém đầu Gioan Tẩy giả, hoặc như những người Rôma phá hủy thành Jêrusalem năm 70. Nhưng Thiên Chúa đã xử đối như thế nào?
Cũng như trong các dụ ngôn khác nơi Tin Mừng Matthêu, những nhân vật chống đối sẽ bị “ném ra ngoài nơi tối tăm, chỗ khóc lóc và nghiến răng (8,12; 13,42; 13,50; 24,51;25,30). Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý một điều quan trọng. Sự từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa, tự nó sẽ gánh lấy hậu quả. Thiên Chúa không giáng phạt chúng ta một cách cuồng nộ để trả thù, như nhiều người vẫn nghĩ tưởng. Tuy nhiên, những ai phớt lờ lời mời gọi của Ngài, và không mặc lấy áo cưới, tức là không sống theo đường lối yêu thương và tha thứ của Đức Giêsu, thì chính họ đã tự chọn cho mình một chỗ dẫn đến hủy diệt và bạo tàn. Không phải Thiên Chúa ra hình phạt, nhưng chính họ, họ đã tự kết án chính mình.
29. Cửa nước trời luôn mở, nhưng y phục phải xứng hợp--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Lại một dụ ngôn khác về Nước Trời được trình bày cho chúng ta với chủ đề sâu xa tương tự như các Chúa nhật trước. Thiên Chúa luôn đi bước trước, “Chúa dọn ra cho con mâm cỗ ” (Tv 22) “đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon” (Is 25, 6) ; “ Đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa ” (x. Tv 22) “theo sự phú túc vinh sang của Người trong Đức Giêsu Kitô” (Pl 4, 12). Nước Trời luôn rộng mở cho hết thảy mọi người, bất luận tốt xấu, miễn là phải có y phục xứng hợp: “Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới ” (Mt 22, 9).
Lời mời gọi phổ quát
Qua dòng thời gian, Thiên Chúa đã mời gọi dân Ngài đi vào trong giao ước, chia sẻ tình yêu với Ngài. Nhưng tiếc thay, con người luôn đáp lại một cách khác, ngược đãi, xua đuổi các tiên tri. Giao ước không được đáp trả. Nhưng Thiên Chúa vẫn một mực trung thành, tiếp tục mở tiệc mời con người tới dự tiệc giao ước mới và đó chính là niềm vui cho mỗi người chúng ta.
Những người đầu tiên được đức vua mời đến dự tiệc cưới, nhưng viện cớ lấy lý do “như đi thăm trại…đi buôn bán” để từ chối (Mt 22, 5-6). Vì họ từ chối, nên những người khác được mời vào chia sẻ niềm vui với gia đình hai bên và đôi bạn trẻ.
Khác với những người được mời trước, những người được mời sau chẳng có công gì cũng được mời dự tiệc cưới. Họ chỉ có cơ may là được các người đầy tớ gặp ở ngã ba đường. Họ thuộc đủ mọi thành phần, bình thường không ai để ý tới.
Chúng ta tự hỏi: Liệu họ có hy vọng, có trông đợi mình được mời dự tiệc cưới kia không? Isaia trả lời. Mọi người đều sống niềm hy vọng vì trong con người có một sự chờ đợi vô song. “Này đây Chúa chúng ta…nơi Người, chúng ta đã tin tưởng…vì ơn Người cứu độ” (Is 25). Họ hy vọng và chờ đợi chứ.
Hy vọng vào lời mời gọi phổ quát này, giả thiết không có một điều kiện tiên quyết nào, cũng không phải là lời mời của những người có lên hệ với nhà vua: “Chúa dọn ra cho con mâm cỗ…”, cho hết mọi người (Tv 22). Thật khó có thể tưởng tượng, hoặc tin rằng Thiên Chúa ban ơn ơn cứu độ nhưng không cho hết mọi người. Đây chính là Tin Mừng Thiên Chúa kêu gọi chúng ta.
Hạnh phúc vì được mời
“Tiệc cưới Con Chiên” được sách Khải Huyền mô tả (19, 7, 9) hàm chứa một ý nghĩa sâu xa: “Phúc cho những ai được mời dự tiệc cưới của Chiên Con!” Thật hạnh phúc cho chúng ta, phúc này vượt quá những gì chúng ta có thể nếm hưởng trên trần gian, đây là yến tiệc Chúa Giêsu ban cho chúng ta.
Sau Chiên Thiên Chúa linh mục mời gọi: “Đây Chiên Thiên Chúa… phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa” (Thánh lễ). Lời này gửi đến tất cả những ai sẽ tham dự vào tiệc cưới Con Chiên. Mỗi Thánh lễ là một lời loan báo và tham dự trước vào yến tiệc Nước Trời, tiệc của Hoàng Tử, Con yếu dấu của Chúa Cha, tiệc của Đức Kitô kết ước với nhân loại. Thánh Têrêsa Avila nói: “Lạy Chúa vị Hôn Thê của con, giờ đã đến, giờ con hằng mong đợi, giờ chúng ta gặp nhau. Ôi lạy Thiên Chúa là tình yêu duy nhất của con! Này là giờ con ao ước từ lâu, tâm hồn con vui sướng khi được kết hợp với Chúa! ” Chúng ta không thể gần Chúa mà không mặc lấy tâm tình của Chúa.
Nhưng phải có y phục lễ cưới
Có một điều khiến người đọc không khỏi thắc mắc và tìm lời giải đáp cho người được mời không mặc y phục lễ cưới, họ vào và bị đức vua ra lệnh: "Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng! " (Mt 22, 13). Họ đang ở ngã ba đường, đầy tớ đức vua tình cờ gặp họ, mời họ vào bất luận họ là ai, sao lại đòi họ phải có y phục lễ cưới?
Áo cưới mà Tin Mừng nói tới ở đây là áo nào? Có phải các bí tích không? Hay là Phép Rửa tội? Vì không chịu phép Rửa tội, không ai có thể đạt tới Thiên Chúa được, nhưng có một số người lãnh nhận phép Rửa tội, không đến cùng Thiên Chúa... Có thể là bàn thờ hay điều người ta lãnh nhận từ bàn thờ không? “Vì kẻ ăn và uống, mà không phân biệt được Thân mình, tức là ăn và uống án phạt cho mình” (1Cr 11, 29). Vậy thì là cái gì? Ăn chay ư? Những kẻ gian ác cũng làm thế. Đi nhà thờ ư? Những kẻ gian ác cũng đi nhà thờ như bao người khác … Vậy áo cưới này là áo nào?
Ở đây, người vào dự tiệc cưới không thụ động, chấp nhận vào thì phải tìm cách thể hiện mình xứng đáng, và đó là áo cưới. Ơn cứu độ là phổ quát, đồng ý để được cứu độ là chấp nhận sống theo những đòi hỏi của Nước Trời, áo cưới vừa thể hiện sự đồng ý, vừa chứng tỏ trách nhiệm của chúng ta.
Đời sống luân lý không phải là điều kiện duy nhất để được cứu độ, Maria Mađalêna, Giakêu và nhiều người khác được mời, họ đã hoán cải để trở nên xứng đáng với Chúa hơn. Áo cưới là những điều tốt, người dự tiệc phải có. Thánh Phaolô nói: “Điều lời truyền dạy phải nhằm đưa tới đức mến, phát tự tấm lòng trong sạch, lương tâm thiện hảo, và đức tin không giả hình” (1Tm 1, 5). Đây là y phục lễ cưới.
Người được mời đến dự tiệc cưới không đơn giản chỉ ăn, nhưng chia sẻ niềm vui với họ hàng hai bên, mừng hạnh phúc cho đôi bạn trẻ, nên phải có y phục xứng đáng.
Chúng ta là những tội nhân được Thiên Chúa mời dự tiệc Nước Trời. Chắc chắn ai cũng muốn mặc chiếc áo cưới tinh tuyền, không vương tội lỗi. Giáo hội Chúa không phải là một xã hội hoàn hảo, gồm có tội nhân, nhưng ý thức được tội lỗi của mình và mong muốn được tha thứ: “mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3, 27), chấp nhận hoán cải, thanh tẩy chính mình “để sao cho xứng với Chúa, mà làm đẹp lòng Ngài trong mọi sự” (Cl 3, 10). Giờ đây hãy chúng ta hãy nghe lời Chúa: “Mọi sự đã sẵn sàng hãy đến!”
Lạy Chúa, ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy. Amen.
30. Phúc cho những ai được mời dự tiệc trong Nước Chúa--Lm. Giuse Phạm Ngọc Khuê
Chủ đề: Phúc cho những ai được mời dự tiệc trong Nước Chúa.
Kính thưa quý cố ông bà và anh chị em,
Mời khách dự tiệc là chia sẻ niềm vui, hạnh phúc, là cách giãi bày lòng biết ơn, sưởi ấm tình liên đới, hiệp thông ngày càng thắm thiết, đậm đà.
Có những bữa tiệc gây ấn tượng ít, có những buổi chiêu đãi tạo âm hưởng lâu dài, tùy địa vị và cung cách của người thiết tiệc.
Trên tất cả, bữa “Tiệc ly” của Chúa Giê-su, ngày thứ năm Tuần Thánh để lại dấu ấn muôn đời, vì đó là Giao Ước cứu độ, truyền chúng ta cử hành mà tưởng nhớ đến Người. Khi rước Mình Thánh Người được hiến tế, chúng ta được mạnh sức và khi rước Máu Thánh Người, chúng ta được tẩy sạch mọi tội lỗi.
Bàn tiệc Thánh Thể là nguồn cơn niềm vui, hạnh phúc viên mãn cho cả Thiên Chúa và thế gian. Bởi vậy, cộng đoàn dân Chúa luôn hằng khao khát cử hành bữa tiệc của Chúa khi đủ điều kiện và luật định.
Tác giả Đường Hy Vọng, số 359, ĐHY. Thuận dạy: “Con muốn tôn vinh Chúa? Con muốn cảm tạ Chúa? Con muốn cầu xin Chúa? Con muốn yêu mến Chúa? Con muốn cứu nhân loại? Hãy dâng thánh lễ! Chúa Giê-su đã làm như vậy!”.
Chính cảm thức đức tin của dân Chúa về bí tích Thánh Thể, bữa ăn của Chúa, mà bao nhiêu chứng nhân nam/nữ đã vượt qua những thời điểm thử thách, tù tội, bị bách hại vì Chúa Kitô, cách anh hùng, dẫy tràn niềm hy vọng, trở nên chứng nhân cho Chúa ngay đối với những kẻ bách hại mình.
Thật, đúng như lời tuyên xưng trong thánh lễ: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa” (cf. Sách lễ quy Rô-ma, Kinh nguyện Thánh Thể).
Từ cảm thức đức tin về bữa “Tiệc của Chúa”, chúng ta được mời gọi suy gẫm Lời Chúa chúa nhật hôm nay.
Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Isaia, là lời loan báo niềm vui và hy vọng dẫy tràn cho dân Chúa đang trong tình cảnh bi đát nhất của mình.
Hồi ấy, Israel đang bị nô lệ, đọa đày bên Babylon. Và vì quá khổ cực, nhiều người đã ngã lòng trông cậy tự hỏi phải chăng Chúa ruồng bỏ dân Người?
Isaia được sai đến an ủi, khích lệ dân vững niềm trông cậy, hoán cải, canh tân, chờ ngày Chúa viếng thăm, đưa về lại quê hương.
Mọi phúc lành lai thời được diễn tả bằng hình ảnh đại tiệc mừng, chính Chúa thiết đãi dân trên núi thánh của Người.
Bàn tiệc được bày biện đủ thứ cao lương, mỹ vị. Thực khách tràn ngập niềm vui mùa lễ hội: không còn tang chế, khóc lóc than van, không còn đau khổ, sự chết.
Trên núi này, dân Chúa sẽ được nghỉ ngơi an bình, miệng không ngớt vang lời tạ ơn: “Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta đã chờ đợi Người và Người đã cứu chúng ta” (Is 25, 9).
Thật và rất thật, lời mời dự tiệc của Chúa tiếp thêm sức mạnh cho quyết tâm hồi hương của dân Chúa. Nhất là khi được an cư lạc nghiệp trong miền đất hứa, nhìn lại chặng đường đã qua, họ thấy như trong mơ:
“Khi tù nhân Si-on được Chúa thương đưa về,
Ta tưởng mình đi trong một giấc mơ,
Vang vang câu cười nói trên môi, rộn rã khúc nhạc mừng.
Thiên hạ kháo với nhau việc Chúa làm lạ lùng.
Lạ lùng thay, việc Chúa làm cho ta,
Ra đi trong sầu khổ đau thương mừng hát mùa gặt về...” (Tv 125).
Niềm vui ngày trở về cứ dạt dào như triền sóng dâng cao, tràn trào vào lịch sử dân Chúa mọi nơi mọi thời.
Bài Tin Mừng vừa tuyên đọc diễn tả niềm vui vô đối của đại tiệc Chúa Cha đã chuẩn bị và mời mọc chúng ta, nhân dịp cưới của “Hoàng Thái Tử”.
Thiệp hồng vô số được gởi đi, cỗ bàn thịnh soạn đã bày biện, mọi sự đã sẵn sàng, nhưng kết quả không như mong ước! Có nhiều người từ chối với những lý do, tựu trung là danh, lợi, thú.
Bài Tin Mừng dạy chúng ta bài học: đừng vô tâm từ chối lời mời gọi của Chúa. Chớ cứng lòng như tổ tiên xưa đã thử thách Chúa, vì những yêu sách phàm nhân.
Từ chối lời mời gọi của Chúa, đồng nghĩa với tự tách mình khỏi nguồn mạch tình yêu và sự sống, rõ thật nghịch lý, con người chống lại chính mình!
Ai sẽ cứu chúng ta khỏi tình trạng sống dở, chết dở này?
Đức Giê-su, Đấng đã chết và sống lại, đang biện hộ cho chúng ta trước tòa án công thẳng của Chúa Cha. Người đang chuyển cầu cho ta bằng mọi phúc lành thiêng liêng trên trời. Ngài mặc cho ta áo hồng ân cứu rỗi, choàng đức chính trực công minh, khiến chúng ta không còn thiếu ơn nào khác nữa, trong khi mong chờ Đức Kitô ngự đến.
Đó là y phục lễ cưới, hãy mang luôn trên mình để khi duyệt thực khách, không ai phải bị trói chân tay, quăng vào chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng.
Thánh Phao-lô, trong bài đọc II, khuyên dạy chúng ta tập nhân đức bằng cách chấp nhận mọi hoàn cảnh xẩy đến cho mình, vì thâm tín rằng, luôn có Đấng ban sức mạnh, để người của Thiên Chúa đủ sức thực thi điều lành góp phần làm cho Danh Cha vinh hiển, Nước Cha trị đến.
Giáo huấn Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta:
Một là: Luôn vui mừng, dâng lời cảm tạ, vì hồng ân đức tin Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần, qua các nhiệm tích cứu độ. Hãy cố gắng tham dự thánh lễ và sống mầu nhiệm Thánh Thể. Đó là hạnh phúc cho những ai được mời dự tiệc Chiên Thiên Chúa.
Hai là: Luôn giữ gìn tấm áo ngày chịu phép rửa tội, với những cam kết: từ bỏ ma quỷ, tội lỗi. Quyết tâm sống ơn gọi làm con Chúa bằng cách lắng nghe, thực thi Lời Chúa, chu toàn bổn phận thuộc đấng bậc mình, xây dựng tình liên đới, hiệp thông, quảng đại sẻ chia tùy khả năng cho những người đói khổ. Thực thi điều đó, chúng ta làm phải!
Xin Chúa thương nâng đỡ và chúc lành cho chúng ta trong ngày chúa nhật hôm nay. Amen.
----------------------
